Hiệu quả từ Chương trình Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở Long An

Nông dân thực hiện cấy lúa bằng máy tại ấp Ông Nhan Tây, xã Bình Hiệp, thị xã Kiến Tường góp phần giảm chi phí, nâng cao hiệu quả. Ảnh: An Hiếu
Nông dân thực hiện cấy lúa bằng máy tại ấp Ông Nhan Tây, xã Bình Hiệp, thị xã Kiến Tường góp phần giảm chi phí, nâng cao hiệu quả. Ảnh: An Hiếu

Phát triển nông nghiệp công nghệ cao là một trong ba chương trình đột phá do tỉnh Long An đề ra nhằm xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, có sức cạnh tranh cao, thân thiện môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đặc biệt, Chương trình Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (ƯDCNC) gắn với tái cơ cấu ngành Nông nghiệp (giai đoạn 2021-2025) bước đầu đã mang lại hiệu quả, nâng cao đời sống nông dân và tạo nguồn nông sản phục vụ thị trường trong nước, xuất khẩu. Long An là một trong những địa phương có diện tích sản xuất lúa lớn, sản lượng bình quân 2,8 triệu tấn/năm.

Kết quả khả quan, tín hiệu tích cực

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) tỉnh Long An, Chương trình Phát triển nông nghiệp ƯDCNC gắn với tái cơ cấu ngành Nông nghiệp (giai đoạn 2021-2025) được xây dựng kế hoạch, cụ thể hóa phù hợp với từng địa phương. Những năm qua, ngành Nông nghiệp tỉnh đã phối hợp với doanh nghiệp, nông dân xây dựng vùng sản xuất lúa đạt chuẩn xuất khẩu trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật (gieo sạ bằng máy sạ cụm, sử dụng thiết bị bay phun thuốc bảo vệ thực vật,...), tổ chức cho nông dân tham gia sản xuất lúa ƯDCNC tập huấn, tham quan và đúc kết kinh nghiệm để nhân rộng. Việc xây dựng vùng lúa ƯDCNC đạt tiêu chuẩn hàng hóa xuất khẩu được bao tiêu đầu ra, nông dân an tâm sản xuất và có lợi nhuận cao hơn so với trồng lúa theo kiểu truyền thống.

Hiệu quả từ Chương trình Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở Long An ảnh 1Nông dân thực hiện cấy lúa bằng máy tại ấp Ông Nhan Tây, xã Bình Hiệp, thị xã Kiến Tường góp phần giảm chi phí, nâng cao hiệu quả. Ảnh: An Hiếu

Đến nay, diện tích sản xuất lúa ƯDCNC của tỉnh là 46.929 ha (theo kế hoạch 60.000 ha, đạt 78,2%), nhờ tiếp cận và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất như sử dụng giống xác nhận, giảm được lượng giống gieo sạ 10-20 kg/ha so với ngoài mô hình; sử dụng phân đạm chậm tan, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đảm bảo thời gian cách ly theo tiêu chuẩn xuất khẩu; ứng dụng thiết bị bay không người lái để phun thuốc bảo vệ thực vật giúp giảm 20-30% lượng thuốc BVTV so với cách phun thông thường, bảo đảm sức khỏe cho người nông dân... Theo thống kê, diện tích ƯDCNC cho năng suất trung bình 72-75 tạ/ha, cao hơn khoảng 3 tạ so với lúa không ứng dụng công nghệ. Chi phí sản xuất giảm bình quân 1,4 triệu đồng mỗi ha. Lợi nhuận bình quân là 27 triệu đồng/ha (cao hơn ngoài mô hình khoảng 3,2 triệu đồng/ha). Trên địa bàn tỉnh hiện có 25 doanh nghiệp, chi nhánh tham gia xuất khẩu gạo, trong đó, nhiều doanh nghiệp đã đa dạng hóa thị trường và dần chuyển hướng từ gạo thông dụng sang gạo cấp cao, chú trọng tăng giá trị sản phẩm thông qua chất lượng, từ đó, tiếp cận, thâm nhập vào các thị trường lớn, khó tính.

Bên cạnh cây lúa, chanh cũng là một trong những cây trồng mang lại giá trị kinh tế cho người trồng. Toàn tỉnh có trên 11.700 ha trồng chanh, tập trung chủ yếu ở các huyện: Bến Lức, Đức Huệ, Đức Hòa, Thủ Thừa và Thạnh Hóa. Diện tích chanh cho trái trên 10.300 ha, năng suất thu hoạch bình quân 180 tạ/ha, sản lượng 173.828 tấn, người trồng chanh có lợi nhuận từ 250-350 triệu đồng/ha/năm. Sở dĩ người trồng chanh có thu nhập cao do những năm gần đây, chanh là một trong những loại nông sản được doanh nghiệp thu mua, chế biến, xuất khẩu. Ngoài thị trường Trung Quốc, chanh được xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới, trong đó có châu Âu. Dự kiến đến hết năm 2022, Long An xây dựng hai mô hình điểm về thâm canh theo hướng thích ứng với biến đổi khí hậu tại huyện Bến Lức và Đức Huệ với diện tích hơn 20 hecta. Nông dân được hỗ trợ 50% vật tư nông nghiệp như phân hữu cơ dạng lỏng và dạng rắn, phân bón thông minh, sản phẩm sinh học đối kháng nấm bệnh. Cây cũng được ứng dụng hệ thống tưới tiên tiến dạng tưới phun mưa qua gốc.

Hiệu quả từ Chương trình Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở Long An ảnh 2Cánh đồng lúa chất lượng cao tại xã Thạnh Hưng, thị xã Kiến Tường (Long An). Ảnh: An Hiếu

Riêng đối với chăn nuôi, trên bò thịt, tỉnh đã triển khai xây dựng 3 mô hình điểm chăn nuôi, hỗ trợ nông dân chuyển đổi bò giống, hỗ trợ gieo tinh nhân tạo các giống chất lượng cao cho 6.326 bò cái sinh sản; tăng năng suất (trọng lượng) lên khoảng 30%; giảm khoảng cách 2 lứa đẻ (từ 3 năm/bê còn 2 năm/bê).

Tăng cường hỗ trợ sản xuất ứng dụng công nghệ cao

Theo UBND tỉnh Long An, toàn tỉnh đã có 271 lượt mã số vùng trồng (thanh long, chanh, chuối, dưa hấu…) với tổng diện tích 13.475,3ha, thị trường xuất khẩu Trung Quốc, Úc, New Zeland, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Nhật Bản; và 158 mã số cơ sở đóng gói đủ điều kiện xuất khẩu. Xây dựng quảng bá được 28 chuỗi rau, thanh long, chanh, gạo, thịt gà, thịt heo, thủy sản; Hỗ trợ 2.061.000 tem điện tử truy xuất nguồn gốc bằng mã QR với 17 cơ sở đã được xác nhận chuỗi cung cấp thực phẩm an toàn; Hỗ trợ 111 lượt doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất sản phẩm nông sản đã và đang thực hiện chứng nhận VietGAP, với diện tích trên 2.868ha. Sở Khoa học và Công nghệ đã hỗ trợ 94 hợp tác xã, Hiệp hội xác lập quyền sở hữu nhãn hiệu tập thể cho các sản phẩm đặc sản (gạo Nàng thơm, gạo Huyết rồng, lúa chất lượng cao, nếp, thanh long, chanh, khóm, khoai mỡ, rau...).

Sở NN&PTNT tỉnh Long An cũng cho biết, từ năm 2021 đến nay, ngành nông nghiệp đã tập trung hỗ trợ các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác tham gia sản xuất ƯDCNC. Đến nay, toàn tỉnh có 6 doanh nghiệp được công nhận là doanh nghiệp nông nghiệp ƯDCNC. Các địa phương cũng tập trung thực hiện chính sách hỗ trợ đối với các hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp về việc cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP, cấp giấy chứng nhận sản xuất rau hữu cơ; tem truy xuất nguồn gốc sản phẩm; xây dựng 6 chuỗi cung ứng nông, lâm, thủy sản và hỗ trợ 300.000 tem truy xuất quét mã QR cho các sản phẩm chuỗi cung ứng. Đến nay, tỉnh xây dựng được 28 chuỗi rau, thanh long, chanh, gạo, thịt gà, thịt heo, bò và thủy sản; hỗ trợ 2.061.000 tem truy xuất nguồn gốc cho các đơn vị này.

Hiệu quả từ Chương trình Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở Long An ảnh 3Chăm sóc mạ khay tại HTX Thạnh Hưng, xã Thạnh Hưng, thị xã Kiến Tường (Long An). Ảnh: An Hiếu

Cùng với đó, tỉnh cũng tập trung nguồn vốn đầu tư hạ tầng vùng sản xuất ƯDCNC, bảo đảm cho vận chuyển vật tư, hàng hóa sản xuất. Năm 2022 vừa qua, tỉnh đã bố trí đầu tư 47 công trình cho vùng sản xuất nông nghiệp ƯDCNC với kinh phí khoảng 163 tỉ đồng và đang tiếp tục rà soát danh mục các công trình đầu tư cho vùng sản xuất ƯDCNC giai đoạn 2021-2025. Năm 2023, ngành triển khai 40 danh mục với kinh phí khoảng 244,8 tỉ đồng. Các công trình sau khi được đầu tư góp phần phục vụ vùng sản xuất ƯDCNC trong việc ngăn lũ, triều cường, cung cấp nước tưới. Các công trình này vừa phục vụ nhu cầu sản xuất nông nghiệp, vừa phục vụ nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa, góp phần làm giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận của người dân trong vùng, góp phần giúp xã đạt tiêu chí nông thôn mới về thủy lợi, giao thông.

Theo kế hoạch từ nay đến hết năm 2025, Long An tiếp tục tuyên truyền để người dân nâng cao nhận thức, tham gia và ƯDCNC trong sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó, Sở NN&PTNT tập trung triển khai, xây dựng vùng nguyên liệu cho xuất khẩu; tiếp tục hỗ trợ phát triển hợp tác xã, tổ hợp tác, liên kết tiêu thụ nông sản; tập trung chuyển đổi số ngành Nông nghiệp và đầu tư các công trình thủy lợi phục vụ vùng sản xuất ƯDCNC.

Thu Hương

(Báo ảnh Dân tộc và Miền núi)

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.