Hiệu quả từ mô hình sản xuất lúa - tôm trong vùng đồng bào Khmer ở vùng sâu Vĩnh Thuận (Kiên Giang)

Hiệu quả từ mô hình sản xuất lúa - tôm trong vùng đồng bào Khmer ở vùng sâu Vĩnh Thuận (Kiên Giang)

Vĩnh Thuận là huyện vùng sâu, vùng xa thuộc vùng U Minh Thượng (tỉnh Kiên Giang), cách trung tâm thành phố Rạch Giá 80 km đường bộ, có địa giới hành chính tiếp giáp với các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu và Hậu Giang. Huyện có diện tích tự nhiên rộng hơn 39.000 ha; trong đó, đất sản xuất nông nghiệp gần 37.000 ha, chiếm trên 93% diện tích đất tự nhiên.

Vĩnh Thuận có dân số 23.778 hộ, với gần 95.000 khẩu; dân tộc Khmer 1.919 hộ, với trên 7.900 khẩu, chiếm gần 8,3%, sống đan xen với người Kinh, tập trung đông nhất xã Vĩnh Bình Bắc, Phong Đông, Tân Thuận, phát triển kinh tế chủ yếu sản xuất nông nghiệp và nuôi thủy sản, một bộ phận đời sống còn khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào Khmer còn khá cao.

Hiệu quả từ mô hình sản xuất lúa - tôm trong vùng đồng bào Khmer ở vùng sâu Vĩnh Thuận (Kiên Giang) ảnh 1

Nhiều hộ nông dân Khmer ở xã Phong Đông (Vĩnh Thuận, Kiên Giang) thực hiện theo mô hình tôm-cua có thu nhập hàng năm khá, đã vươn lên thoát nghèo. Ảnh: Lê Sen

Theo ông Huỳnh Tấn Phi, Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Thuận, những năm qua, thực hiện chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, các cấp ủy, chính quyền huyện đã tập trung đồng bộ nhiều giải pháp để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đẩy nhanh tái cơ cấu ngành nông nghiệp trên địa bàn huyện. Đồng thời, tập trung chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, giống, cây trồng theo hướng thích hợp, nhằm góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao thu nhập, đời sống, vật chất của người dân, giảm nghèo bền vững, nhất là người dân trong vùng đồng bào dân tộc Khmer.

Qua thời gian triển khai thực hiện giai đoạn 2014-2019, đã xuất hiện nhiều mô hình mới trong sản xuất nông nghiệp ở vùng đồng bào dân tộc Khmer ở Vĩnh Thuận, như mô hình tôm - cua kết hợp, mô hình nuôi tôm càng xanh, đặc biệt là mô hình tôm - lúa mang lại hiệu quả kinh tế cao và phát triển bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Từ hiệu quả của mô hình tôm - lúa, đời sống nhiều hộ dân trong vùng đồng bào dân tộc Khmer từng bước được nâng lên nhờ nâng cao thu nhập. Thu nhập bình quân đầu người năm sau cao hơn năm trước, tỷ lệ hộ nghèo giảm qua từng năm, từ 276 hộ năm 2014, giảm xuống còn gần 150 hộ đầu năm 2020, góp phần thực hiện thắng lợi chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng xã nông thôn mới. Đến nay, Vĩnh Thuận có 7/7 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có 3 xã có đồng bào dân tộc Khmer được công nhận, diện mạo nông thôn vùng dân tộc được khởi sắc, khang trang hơn so với trước.

Trước đây, bà con trong vùng đồng bào dân tộc Khmer đa phần là thực hiện sản suất canh tác chuyên canh lúa hoặc chuyên tôm nhưng hiệu quả mang lại không cao và thiếu bền vững. Thực tế cho thấy mô hình chuyên tôm, qua nhiều năm thâm canh liên tục, ao tôm bị lão hóa, mầm bệnh nhiều, nghề nuôi tôm bộc lộ nhiều rủi ro cao và thiếu bền vững; còn đối với mô hình chuyên lúa, do điều kiện biến đổi khí hậu, mặn xâm nhập nên hiệu quả mang lại không cao.

Hiệu quả từ mô hình sản xuất lúa - tôm trong vùng đồng bào Khmer ở vùng sâu Vĩnh Thuận (Kiên Giang) ảnh 2

Mô hình nuôi tôm công nghiệp tại hộ nông dân Khmer ở xã Phong Đông (Vĩnh Thuận, Kiên Giang). Ảnh: Lê Sen

Qua chuyển đổi thực hiện mô hình tôm - lúa đã cho thấy hiệu quả tích cực, mô hình phát triển bền vững, hạn chế rủi ro, thích ứng được với biến đổi khí hậu, mặn xâm nhập, cải thiện được môi trường canh tác... Từ đó, thu nhập bình quân ổn định và xuất hiện nhiều nhân tố điển hình tiên tiến, nhiều mô hình trong đồng bào dân tộc Khmer cho lợi nhuận hàng năm trên 100 triệu đồng/ha, như hộ ông Danh Thanh ở ấp Đồng Tranh (xã Vĩnh Bình Bắc), ông Danh Lâu ở ấp Kinh 2 (xã Tân Thuận), ông Danh Sơn Hà ở ấp Bời Lời B (xã Bình Minh)...

Ông Danh Thanh, ngụ ấp Đồng Tranh (xã Vĩnh Bình Bắc) cho biết, trước đây vùng đất này bị nhiễm phèn mặn nên chỉ trồng được cây khóm (dứa), sau đó được Nhà nước đầu tư nạo vét kênh mương nên nuôi được tôm. Thế nhưng con tôm chỉ nuôi được vài năm bắt đầu xảy ra tình trạng tôm bị chết hoặc lâu lớn do các ao nuôi lâu ngày bị lão hóa.

Sau đó, được hướng dẫn của cán bộ khuyến nông và theo định hướng của chính quyền địa phương chuyển sang mô hình nuôi một vụ tôm, trồng một lúa. Với hướng đi này, không chỉ ruộng lúa cho năng suất cao mà trở lại nuôi vụ tôm cũng đạt năng suất cao hơn trước. Nhờ vậy, với hơn 1 ha diện tích canh theo theo mô hình tôm - lúa đã cho gia đình ông Thanh thu nhập trên 100 triệu đồng/năm.

Ông Thái Thanh Phong, Chủ tịch UBND xã Phong Đông cho biết, xã có tổng dân số 4.728 người, có 1.421 hộ, dân tộc Khmer chiếm hơn 29%. Thời điểm năm 2016, đời sống một bộ phận nhân dân còn khó khăn, thu nhập bình quân đạt 22,4 triệu đồng/người/năm và không ổn định; tập quán sản xuất của đồng bào dân tộc Khmer lạc hậu, trình độ áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế, kết cấu hạ tầng giao thông nông thôn phát triển chưa đồng bộ, tỷ lệ hộ nghèo còn cao với 309 hộ, chiếm hơn 21 dân số.

Hiệu quả từ mô hình sản xuất lúa - tôm trong vùng đồng bào Khmer ở vùng sâu Vĩnh Thuận (Kiên Giang) ảnh 3

Tập huấn, chuyển giao kỹ thuật canh tác theo mô hình lúa - tôm cho bà con Khmer ở ấp Đồng Tranh (xã Vĩnh Bình Bắc, Vĩnh Thuận, Kiên Giang). Ảnh: An Hiếu

Nhưng bằng những bước đi cụ thể, trọng tâm là đã chuyển đổi trên 2.000 ha đất trồng lúa sang mô hình tôm - lúa trong nông dân đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn đã làm thay đổi cuộc sống người dân nơi đây. Đến đầu năm 2020, thu nhập bình quân đầu người của người dân xã có đông đồng bào dân tộc Khmer Phong Đông tăng lên trên 45 triệu đồng và tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 3,59%.

Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Thuận Huỳnh Tấn Phi cho biết, đến nay, hầu hết các hộ nuôi tôm trên địa bàn huyện Vĩnh Thuận nói chung, hộ đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng đã chuyển sang mô hình sản xuất luân canh tôm - lúa. Đây là mô hình rất có triển vọng, huyện Vĩnh Thuận cũng đã chọn mô hình này để nhân rộng.

Để mô hình nâng cao hiệu quả, đảm bảo tính bền vững, lâu dài, Vĩnh Thuận tiếp tục tập trung chỉ đạo đẩy nhanh triển khai tái cơ cấu ngành nông nghiệp; thực hiện tốt công tác quy hoạch phát triển sản xuất, nhất là trong nuôi trồng thủy sản, gắn với đầu tư cơ sở hạ tầng thủy lợi đáp ứng yêu cầu chuyển đổi cơ cấu sản xuất, nâng cao thu nhập người dân nông thôn, nhất là vùng đồng bào dân tộc Khmer.

Bên cạnh đó, đẩy mạnh công tác tuyên truyền trong nhân dân, nhất là người dân trong vùng đồng bào dân tộc Khmer nâng cao nhận thức thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp, mạnh dạn chuyển đổi giống, cây trồng, vật nuôi và xác định mô hình tôm - lúa là mô hình cho hiệu quả kinh tế cao và bền vững. Từ đó, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống, giảm nghèo bền vững.

Hiệu quả từ mô hình sản xuất lúa - tôm trong vùng đồng bào Khmer ở vùng sâu Vĩnh Thuận (Kiên Giang) ảnh 4

Cán bộ huyện Vĩnh Thuận xuống cơ sở, trao đổi về tình hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi với bà con Khmer ở ấp Đồng Tranh (xã Vĩnh Bình Bắc, Vĩnh Thuận, Kiên Giang). Ảnh: An Hiếu

Trong thời gian tới, huyện Vĩnh Thuận tiếp tục tập trung đẩy mạnh nhân rộng mô hình gắn với tăng cường tập huấn, chuyển giao các tiến bộ khoa học, kỹ thuật cho người sản xuất, đặc biệt là người dân vùng đồng bào dân tộc Khmer. Đồng thời, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận với các mô hình làm ăn có hiệu quả để trao đổi và học hỏi kinh nghiệm; chỉ đạo liên kết sản xuất gắn kêu gọi các công ty, xí nghiệp cung cấp vật tư, thiết bị phục vụ cho sản xuất và bao tiêu sản phẩm…/.

Lê Sen, An Hiếu

(Báo ảnh DT&MN/TTXVN)
Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Nhiều dự án khắc phục hạ tầng hư hỏng do bão, lũ tại Đắk Lắk chậm tiến độ

Nhiều dự án khắc phục hạ tầng hư hỏng do bão, lũ tại Đắk Lắk chậm tiến độ

Sau đợt thiên tai cuối năm 2025, mặc dù ngành chức năng và các địa phương trong tỉnh Đắk Lắk đã khẩn trương triển khai các dự án khắc phục thiệt hại nhưng đến nay một số công trình về hạ tầng sản xuất nông nghiệp vẫn chưa thi công hoàn thành. Một số công trình cầu, đường bị ảnh hưởng bão, lũ hiện cũng chưa có nguồn vốn để sửa chữa, ảnh hưởng đến sinh hoạt và sản xuất của người dân.

Rộn ràng thi công trường học mới trên đại ngàn Trường Sơn

Rộn ràng thi công trường học mới trên đại ngàn Trường Sơn

Giữa núi rừng biên giới Việt - Lào, trong cái nắng bỏng rát của mùa hè, hàng trăm đôi tay đang hối hả, khẩn trương xây dựng trên công trình Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở Đắc Pring (xã Đắc Pring, thành phố Đà Nẵng). Chỉ còn chưa đầy hai tháng nữa, khi bắt đầu năm học mới, nơi đây sẽ là một trường học to đẹp, đầy đủ tiện nghi chào đón học sinh dân tộc Giẻ Triêng, Cơ Tu…

Quảng Ngãi khẩn trương khắc phục thiệt hại do lốc xoáy gây ra

Quảng Ngãi khẩn trương khắc phục thiệt hại do lốc xoáy gây ra

Sáng 16/6, bà Sang Thị Minh Ngọc, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Sơn Linh, tỉnh Quảng Ngãi cho biết, các lực lượng chức năng địa phương đang khẩn trương triển khai các biện pháp khắc phục hậu quả, hỗ trợ người dân ổn định đời sống sau trận lốc xoáy và mưa lớn xảy ra vào chiều 15/6.

Biên cương gắn kết, vun đắp tình hữu nghị đặc biệt Việt - Lào

Biên cương gắn kết, vun đắp tình hữu nghị đặc biệt Việt - Lào

Nhằm giúp đỡ nhân dân bản Móng Nặm (xã Móng Nặm, huyện Xiềng Khọ, tỉnh Hủa Phăn, Lào) vươn lên phát triển kinh tế, ổn định đời sống, thời gian qua, Đồn Biên phòng Chiềng Tương (Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Sơn La) đã triển khai nhiều hoạt động thiết thực để hỗ trợ cho các hộ dân khu vực giáp biên với tỉnh Sơn La.

Đôn đốc tiến độ các dự án cấp bách phòng, chống thiên tai

Đôn đốc tiến độ các dự án cấp bách phòng, chống thiên tai

Ngày 15/6, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ Đinh Công Sứ cùng đoàn công tác của tỉnh đã kiểm tra thực địa, làm việc với các địa phương và đơn vị liên quan về tiến độ thực hiện Dự án khắc phục cấp bách sạt lở khu vực tổ 15, phường Hòa Bình và Dự án cấp bách đê ngăn lũ chống ngập úng Pheo - Chẹ hạ du sông Đà. Đây là hai công trình trọng điểm có ý nghĩa quan trọng trong phòng, chống thiên tai, bảo vệ tính mạng, tài sản của người dân và hạ tầng kinh tế - xã hội khu vực hạ du sông Đà.

Cảnh báo đá lở từ vách núi gây nguy hiểm ở Cao Bằng

Cảnh báo đá lở từ vách núi gây nguy hiểm ở Cao Bằng

Cao Bằng là tỉnh miền núi có nhiều vách đá dựng đứng, tiềm ẩn nguy cơ đá lăn, đá rơi trong mùa mưa bão. Những ngày qua, nhiều địa phương có mưa, mưa to, nền đất đá bị phong hóa, sụt trượt khiến những tảng đá to lăn từ trên đỉnh núi xuống gây nguy hiểm cho người dân, phương tiện đi lại trên các tuyến giao thông.

Khuyến cáo người dân cẩn trọng, tránh xa khu vực xuất hiện voi hoang dã

Khuyến cáo người dân cẩn trọng, tránh xa khu vực xuất hiện voi hoang dã

Ngày 15/6, ông Hoàng Văn Tám, Chủ tịch UBND xã Đắk Wil, tỉnh Lâm Đồng cho biết, UBND xã đã phối hợp với đơn vị chủ rừng và các ngành chức năng liên quan tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, khuyến cáo người dân cẩn trọng, hạn chế tiếp xúc với voi hoang dã trên địa bàn.

Trao cơ hội khám sức khỏe, sàng lọc bệnh miễn phí cho người dân

Trao cơ hội khám sức khỏe, sàng lọc bệnh miễn phí cho người dân

Tỉnh Thái Nguyên đang hướng tới mục tiêu tất cả người dân được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí nhằm chủ động phát hiện, dự phòng và điều trị sớm cho người dân, giảm gánh nặng bệnh tật và chi phí y tế, đảm bảo mỗi người dân đều được bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe toàn diện.

Tăng tốc xây dựng 13 trường nội trú ở vùng biên giới Sơn La

Tăng tốc xây dựng 13 trường nội trú ở vùng biên giới Sơn La

Ngày 12/6, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Sơn La Hà Trung Chiến chủ trì cuộc họp đánh giá tiến độ triển khai đầu tư xây dựng trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học - trung học cơ sở tại các xã biên giới, đồng thời chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ thi công để các công trình sớm hoàn thành, đưa vào sử dụng phục vụ năm học mới. Các dự án trường nội trú liên cấp tại khu vực biên giới đang được triển khai đồng loạt ở Sơn La với khí thế khẩn trương.

Những người giữ lửa niềm tin và lan tỏa những giá trị tích cực trong cộng đồng

Những người giữ lửa niềm tin và lan tỏa những giá trị tích cực trong cộng đồng

Bằng những việc làm cụ thể, đội ngũ người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đang phát huy vai trò nòng cốt trong tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; góp phần phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Phát hiện sớm bệnh tật, quản lý sức khỏe toàn diện cho nhân dân

Phát hiện sớm bệnh tật, quản lý sức khỏe toàn diện cho nhân dân

Tỉnh Đắk Lắk có dân số hơn 3,3 triệu người, trong đó, nhiều người cao tuổi, hộ nghèo, người khuyết tật và đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng sâu, vùng xa. Để tiến tới mục tiêu khám sức khỏe toàn dân, ngành Y tế tỉnh Đắk Lắk đã huy động toàn bộ hệ thống y tế từ tuyến cơ sở đến tuyến tỉnh, tranh thủ nguồn lực từ các bệnh viện và cơ sở y tế ngoài công lập. Đây là bước đi quan trọng để mọi người dân đều được tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng và quản lý sức khỏe xuyên suốt.

Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026: Hỗ trợ suất ăn cho thí sinh người đồng bào dân tộc thiểu số

Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026: Hỗ trợ suất ăn cho thí sinh người đồng bào dân tộc thiểu số

Trong ngày thi đầu tiên của Kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông năm 2026 (11/6), tại các điểm thi vùng miền núi tỉnh Quảng Trị, nhiều hoạt động tiếp sức mùa thi đã được triển khai kịp thời nhằm hỗ trợ thí sinh, đặc biệt là học sinh đồng bào dân tộc thiểu số có hoàn cảnh khó khăn.

Xây trận địa hậu cần vững chắc nơi biên cương

Xây trận địa hậu cần vững chắc nơi biên cương

Thực hiện phong trào thi đua “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác”, các đồn biên phòng trên tuyến biên giới của tỉnh Gia Lai đã chủ động khắc phục điều kiện khí hậu khắc nghiệt xây dựng thành công mô hình tự chủ 100% nguồn thực phẩm sạch tại chỗ. Điều này đã giúp các đơn vị nâng cao chất lượng bữa ăn cho bộ đội và giúp duy trì xuất sắc tỷ lệ quân số khỏe mạnh trên 98%, giúp đảm bảo năng lực sẵn sàng chiến đấu.

Kiên quyết không để vùng biên 'lỡ nhịp' hạ tầng giáo dục

Kiên quyết không để vùng biên 'lỡ nhịp' hạ tầng giáo dục

Chính quyền các xã biên giới tỉnh Lâm Đồng và ngành chức năng liên quan đang đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng phục vụ thi công ba trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở. Đây đều là các trường được khởi công vào tháng 3/2026 và dự kiến hoàn thành vào tháng 8/2027.

Tháo gỡ khó khăn về vốn đối ứng giúp nhiều gia đình thoát nghèo bền vững

Tháo gỡ khó khăn về vốn đối ứng giúp nhiều gia đình thoát nghèo bền vững

Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, tỉnh Phú Thọ đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm hỗ trợ người dân vùng khó khăn phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống. Từ hỗ trợ nhà ở, đầu tư hạ tầng đến tạo sinh kế phù hợp, các chính sách đang từng bước phát huy hiệu quả; góp phần thay đổi diện mạo nông thôn và nâng cao đời sống đồng bào dân tộc thiểu số.

Nồi cháo nghĩa tình tiếp sức thí sinh dân tộc thiểu số xứ Lạng

Nồi cháo nghĩa tình tiếp sức thí sinh dân tộc thiểu số xứ Lạng

Nhằm tiếp sức, động viên tinh thần học sinh tham dự Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, từ đêm 10/6 đến hết kỳ thi, thầy, các thầy, cô giáo Trường THPT Dân tộc Nội trú tỉnh Lạng Sơn cùng các đơn vị đồng hành, nhà tài trợ đã duy trì những nồi cháo nghĩa tình phục vụ bữa ăn bữa đêm cho học sinh. Những suất cháo nóng hổi không chỉ giúp đảm bảo sức khỏe, mà còn thể hiện sự quan tâm, tình yêu thương dành cho các em.

Tiếp sức thí sinh vùng khó, đồng bào dân tộc thiểu số

Tiếp sức thí sinh vùng khó, đồng bào dân tộc thiểu số

Nhằm tiếp sức, động viên tinh thần học sinh tham dự Kỳ thi tốt nghiệp Trung học Phổ thông năm 2026, từ đêm 10/6 đến hết kỳ thi, thầy, cô giáo Trường Trung học Phổ thông Dân tộc Nội trú tỉnh Lạng Sơn cùng các đơn vị đồng hành, nhà tài trợ đã tổ chức nấu những nồi cháo nghĩa tình vào ban đêm giúp học sinh đảm bảo sức khỏe. Nhiều trường học trong tỉnh cũng tổ chức hoạt động tiếp sức mùa thi thiết thực, giúp thí sinh vượt “vũ môn” thuận lợi...

Quan tâm đời sống tín ngưỡng của đồng bào Công giáo vùng Dự án Cảng hàng không quốc tế Gia Bình ​

Quan tâm đời sống tín ngưỡng của đồng bào Công giáo vùng Dự án Cảng hàng không quốc tế Gia Bình ​

Ngày 10/6, Đoàn công tác do Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh Phạm Văn Thịnh làm Trưởng đoàn đã đến thăm, làm việc với Tòa Giám mục Bắc Ninh nhằm kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân; đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng Dự án Cảng hàng không quốc tế Gia Bình và các dự án liên quan.

Tạo sinh kế bền vững giúp đồng bào vùng cao thoát nghèo

Tạo sinh kế bền vững giúp đồng bào vùng cao thoát nghèo

Những năm qua, cùng với việc triển khai đồng bộ các Chương trình mục tiêu quốc gia, công tác giảm nghèo ở Tuyên Quang đã chuyển biến tích cực. Thay vì hỗ trợ mang tính ngắn hạn, các địa phương đang tập trung tạo sinh kế bền vững, giúp người dân có điều kiện phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập và từng bước vươn lên thoát nghèo bằng chính nội lực của mình.

Hỗ trợ 100% thẻ bảo hiểm y tế cho người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số

Hỗ trợ 100% thẻ bảo hiểm y tế cho người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số

Sáng 10/6, ông Danh Phúc, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn Giáo tỉnh An Giang cho bết, HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 08/2026/NQ-HĐND, ngày 21/5/2026 quy định mức hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế cho người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số không thuộc đối tượng đã được ngân sách nhà nước đóng và hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế trên địa bàn.