Kết nối tiêu thụ nông sản: Mã số vùng trồng cần đi trước một bước

Kết nối tiêu thụ nông sản: Mã số vùng trồng cần đi trước một bước

Tại Diễn đàn kết nối nông sản 970 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức với chủ đề “Tăng cường giải pháp phát triển bền vững sản xuất, tiêu thụ sản phẩm trái cây chủ lực phía Nam”, sáng 8/6, ông Nguyễn Đình Tùng - Tổng giám đốc Công ty Xuất nhập khẩu Vina T&T Group kiến nghị, việc cấp mã số vùng trồng cần đi trước một bước trước khi mở cửa thị trường. Điển hình như với quả bưởi sắp được xuất khẩu sang Mỹ nhưng việc tìm được mã số vùng trồng quả bưởi với doanh nghiệp rất khó khăn.

Kết nối tiêu thụ nông sản: Mã số vùng trồng cần đi trước một bước ảnh 1Một góc vùng sản xuất chè an toàn xã Tức Tranh, huyện Phú Lương (Thái Nguyên) - nơi liên kết sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn, có thương hiệu riêng và mã số vùng trồng.  Ảnh: Hoàng Nguyên - TTXVN

Ông Nguyễn Đình Tùng cũng đưa ra vấn đề, doanh nghiệp không thể đi làm mã số vùng trồng ở các vùng nguyên liệu, trong khi các vùng nguyên liệu ở nhiều địa phương. Do đó, các địa phương cần chuẩn bị, xây dựng trước về mã số vùng trồng. Nếu doanh nghiệp thu mua sản phẩm thì địa phương sẽ cấp mã đó cho doanh nghiệp. 

“Nếu chứng nhận mã số vùng trồng theo từng năm sẽ rất khó. Cần quy định nếu có sự thay đổi về diện tích hay vấn đề nào đó thì mới cấp lại. Nếu chỉ cấp theo năm thì sẽ rất nhanh hết hạn, nên đôi khi doanh nghiệp sẽ rất bị quên việc phải tái chứng nhận mã số vùng trồng”, ông Nguyễn Đình Tùng kiến nghị.

Trước vấn đề này, ông Lê Thanh Tùng, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt thông tin, hiện Cục Bảo vệ thực vật cũng đã hướng đến triển khai cấp mã số vùng trồng cho thị trường mục tiêu để khi mở cửa thị trường là sản phẩm có thể đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu ngay. Tuy nhiên, để đạt được các tiêu chí cấp mã số vùng trồng thì nỗ lực của nông dân, các địa phương rất quan trọng. Mã số vùng trồng giờ không chỉ cho xuất khẩu mà còn tạo niềm tin cho người tiêu dùng trong nước.

Đến nay, cả nước đã có trên 4.000 mã số vùng trồng với trên 300.000 ha cho các loại hoa quả chính như: chuối, thanh long, nhãn, mít, xoài, chôm chôm… Riêng Đồng bằng sông Cửu Long có trên 1.500 mã, chiếm trên 39%.

Song song với đó là việc xây dựng mã số đóng gói. Đến nay, các cơ quan chức năng đã cấp 1.864 mã số cơ sở đóng gói cho các loại quả tươi được phép xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, Hoa Kỳ, Australia, New Zealand, Hàn Quốc, Nhật Bản… trên 37 tỉnh, thành phố. Riêng Đồng bằng sông Cửu Long được cấp 932 mã, chiếm 50%.

Về công tác mở rộng thị trường, ông Lê Văn Thiệt, Phó Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật cho biết, hiện nay Việt Nam đã xuất khẩu sang thị trường Mỹ 6 loại quả gồm thanh long, xoài, vải, nhãn, chôm chôm, vú sữa. Hai bên đang trong quá trình đàm phán bước cuối mở cửa xuất khẩu mặt hàng bưởi.

Trung Quốc đã đồng ý cho Việt Nam xuất khẩu chanh leo. Quả sầu riêng cũng đang đàm phán ở giai đoạn cuối. Hai bên đang hoàn thiện Nghị định thư quy định xuất khẩu về vùng trồng, mã số nhà phân phối và quản lý dịch hại.

Thông tin về tổ chức sản xuất đáp ứng yêu cầu thị trường tại Sóc Trăng, ông Trần Trọng Khiêm, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chia sẻ, thời gian qua, do ý thức sản xuất của người dân được nâng cao nên nông sản trên địa bàn tỉnh đã tiêu thụ tốt, không xảy ra tình trạng ùn ứ.

“Điểm sáng của Sóc Trăng là người dân cũng đang chủ động nâng cao chất lượng, đăng kí mã số vùng trồng, tham gia các hợp tác xã để hướng đến sản xuất một số loại trái cây khác”, ông Trần Trọng Khiêm cho hay.

Ngành nông nghiệp Sóc Trăng đang đề xuất xây dựng đề án nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2022 - 2025 và đề án xây dựng 4 kho nông sản: trái cây, hành, lúa, thủy sản. Ngành cũng đề xuất với tỉnh có những chính sách hỗ trợ các đơn vị, doanh nghiệp xây dựng các nhà máy chế sâu rau củ quả, đặc biệt là sản phẩm hành tím của địa phương.

“Khi người dân thu hoạch nông sản đồng loạt, thương lái thu mua không hết. Việc xây dựng những kho dự trữ nông sản để giúp người dân bảo quản nông sản trong điều kiện tốt, tránh để ùn ứ”, ông Trần Trọng Khiêm cho biết.

Với Gia Lai, ông Đoàn Ngọc Có, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, tỉnh hiện có khoảng 21.500 ha diện tích cây ăn quả. Gia Lai vừa ban hành đề án phát triển cây ăn quả định hướng năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030. Theo đó, tỉnh dự kiến đưa diện tích cây ăn quả lên 55.000 ha vào năm 2025 và 100.000 ha vào năm 2030. Để làm được điều này, Gia Lai chủ trương chuyển các diện tích trồng sắn, mía, điều, cao su kém hiệu quả sang tập trung cây ăn quả.

Tỉnh sẽ tập trung phát triển 4 cây ăn quả chính là: chanh leo hiện gần 4.000 ha, mục tiêu sẽ lên trên 20.000 ha; 4.000 ha chuối sẽ phát triển lên gần 10.000 ha; cây bơ đang có gần 2.600 ha sẽ phát triển lên 4.000 ha; sầu riêng hiện 2.800 ha sẽ phát triển lên 6.000 ha. Hiện cây chanh leo, chuối đang cho người dân lợi nhận có thể 350-400 triệu ha/năm.

Vừa qua, nhờ sự kết nối, hỗ trợ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Gia Lai tổ chức thành công hội nghị xúc tiến đầu tư vào tỉnh. Qua hội nghị, nhiều “đại bàng” trong ngành nông nghiệp cam kết đầu tư vào công nghệ chế biến nông sản của tỉnh thời gian tới.

Cụ thể, Công ty cổ phần Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao (Doveco) cam kết hỗ trợ chế biến khoảng 52.000 tấn trái cây, Công ty Nafoods khoảng 28.000 tấn và Công ty Hoàng Anh Gia Lai khoảng 100.000 tấn.

Theo Cục Trồng trọt, tổng sản lượng cây ăn quả chính phía Nam 6 tháng cuối năm khoảng 4,05 triệu tấn; trong đó quý III là 2,078 triệu tấn, quý IV là 1,972 triệu tấn. Loại trái cây nhiều nhất là thanh long với khoảng 869.000 tấn tại Bình Thuận, Long An, Tiền Giang; tiếp đến là chuối với sản lượng 563.000 tấn; sầu riêng với 440.000 tấn; xoài 355.000 tấn…

Bích Hồng

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.