Tối 22/6, tại Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật tỉnh Tây Ninh (phường Tân Ninh), Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tây Ninh phối hợp Cục Thể dục Thể thao Việt Nam tổ chức Lễ khai mạc Giải vô địch Kun Khmer các đội mạnh toàn quốc năm 2026.
Đồng thời, Liên đoàn Kickboxing Việt Nam tổ chức Lễ trao tặng Huân chương Lao động cho các huấn luyện viên và vận động viên đội tuyển Kickboxing quốc gia, đội tuyển Kun Khmer quốc gia.
Tham dự chương trình có Phó Chủ tịch Liên đoàn Kun Khmer thế giới Hồ Thanh Liêm, Tổng Thư ký Liên đoàn Kun Khmer thế giới Khov Chhay và Chủ tịch Liên đoàn Kickboxing Việt Nam Vũ Đức Thịnh.
Theo Ban Tổ chức, Kun Khmer là môn võ đối kháng giàu truyền thống của khu vực Đông Nam Á, đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa sức mạnh, kỹ thuật, bản lĩnh và tinh thần thượng võ. Những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thể thao thành tích cao Việt Nam, môn Kun Khmer từng bước khẳng định vị thế trên đấu trường khu vực và quốc tế, thu hút sự quan tâm của đông đảo người hâm mộ. Giải vô địch Kun Khmer các đội mạnh toàn quốc năm 2026 là hoạt động thể thao quy mô quốc gia, quy tụ các đội mạnh đến từ nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước.
Với vai trò địa phương đăng cai, tỉnh Tây Ninh đã tích cực chuẩn bị các điều kiện cần thiết để giải đấu diễn ra thành công, góp phần tạo nên sân chơi chuyên nghiệp, đoàn kết, trung thực và giàu tính cống hiến.
Ông Lê Quang Chánh, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tây Ninh cho biết, thông qua giải đấu nhằm phát triển phong trào tập luyện và thi đấu môn Kun Khmer trên cả nước nói chung và tỉnh Tây Ninh nói riêng. Đồng thời, tuyển chọn các vận động viên xuất sắc cho đội tuyển quốc gia tham gia các giải đấu quốc tế, góp phần thúc đẩy phong trào luyện tập và thi đấu môn Kun Khmer trong hệ thống thể thao thành tích cao của Việt Nam.
Giải vô địch Kun Khmer các đội mạnh toàn quốc năm 2026 diễn ra từ ngày 20-30/6 tại Quảng trường Tô Quyền, phường Tân Ninh, tỉnh Tây Ninh, với sự tham gia của hơn 230 huấn luyện viên, vận động viên thuộc 18 câu lạc bộ đến từ các tỉnh, thành phố trong cả nước. Các vận động viên tranh tài 39 bộ huy chương ở các nội dung đối kháng nam và đối kháng nữ của hai nhóm tuổi 16 - 17 và 17 - 40.
Tại buổi lễ, ông Khov Chhay, Tổng Thư ký Liên đoàn Kun Khmer thế giới chia sẻ về quá trình hình thành, phát triển của môn Kun Khmer và những bước tiến nổi bật của phong trào Kun Khmer tại Việt Nam thời gian qua. Ông đánh giá cao sự quan tâm của các cơ quan quản lý thể thao Việt Nam, các địa phương và đơn vị chuyên môn trong việc đưa Kun Khmer phát triển mạnh mẽ, từng bước mở rộng phong trào tập luyện, thi đấu trên phạm vi cả nước. Theo ông Khov Chhay, việc tổ chức Giải vô địch Kun Khmer các đội mạnh toàn quốc năm 2026 không chỉ góp phần nâng cao chất lượng chuyên môn của vận động viên mà còn tăng cường giao lưu, hợp tác quốc tế, tạo nền tảng để môn thể thao này tiếp tục phát triển bền vững, hướng tới những thành tích cao tại các đấu trường khu vực và quốc tế.
Trong khuôn khổ chương trình, Liên đoàn Kickboxing Việt Nam tổ chức Lễ trao tặng Huân chương Lao động của Chủ tịch nước cho 45 huấn luyện viên, vận động viên đội tuyển Kickboxing quốc gia và đội tuyển Kun Khmer quốc gia nhằm ghi nhận những thành tích đặc biệt xuất sắc đạt được tại các giải đấu quốc tế trong năm 2026.
Theo đó, có 10 cá nhân được tặng Huân chương Lao động hạng Nhất, 24 cá nhân được tặng Huân chương Lao động hạng Nhì và 11 cá nhân được tặng Huân chương Lao động hạng Ba. Trong số các cá nhân được vinh danh có 1 huấn luyện viên và 2 vận động viên của tỉnh Tây Ninh. Đây là sự ghi nhận xứng đáng đối với những nỗ lực, cống hiến không ngừng của các huấn luyện viên, vận động viên trong quá trình tập luyện, thi đấu, đồng thời là động lực để các thế hệ vận động viên tiếp tục phấn đấu, chinh phục những thành tích cao hơn trong thời gian tới./.
Tên tự gọi: Người Khmer.
Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.
Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.
Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.
Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.
Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.
Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.
Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.
Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).
Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.
Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Theo cema.gov.vn