Không gian văn hóa độc đáo ở các chợ phiên vùng cao xứ Nghệ

Miền Tây Nghệ An có những phiên chợ vùng cao, biên giới nổi tiếng như Mường Quạ (xã Môn Sơn), Mường Chon (xã Bình Chuẩn), Tri Lễ (xã Tri Lễ), Nga My (xã Nga My), Nhôn Mai (xã Nhôn Mai). Không chỉ là nơi trao đổi hàng hóa, đó còn là không gian văn hóa sống động, đặc sắc, nơi lưu giữ phong tục, tập quán và bản sắc đặc trưng của cộng đồng các dân tộc Thái, Đan Lai, Khơ Mú, Ơ Đu.

Ngày nay, trong dòng chảy hiện đại, việc khôi phục và phát huy giá trị của chợ phiên tại mỗi địa bàn đang góp phần kết nối cộng đồng, mở ra hướng đi hài hòa giữa bảo tồn di sản văn hóa với phát triển du lịch, tạo sinh kế bền vững cho người dân miền núi.

nghe-an-260726-2.jpg
Những bộ trang phục truyền thống với hoa văn thổ cẩm đặc trưng được đồng bào dân tộc thiểu số mang đến chợ phiên để giới thiệu và bán cho du khách.
nghe-an-260726-3.jpg
Các gian hàng bày bán đồ thủ công, thổ cẩm và sản phẩm đan lát truyền thống thu hút đông đảo người dân, du khách tham quan, mua sắm tại chợ phiên vùng cao miền Tây Nghệ An.
nghe-an-260726-4.jpg
Các sản phẩm thổ cẩm được dệt thủ công với họa tiết, hoa văn đặc sắc phản ánh bản sắc văn hóa của đồng bào các dân tộc miền Tây Nghệ An.
nghe-an-260726-5.jpg
Người dân và du khách lựa chọn, thử những bộ trang phục truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số tại chợ phiên vùng cao, góp phần gìn giữ và quảng bá nét đẹp văn hóa bản địa.
nghe-an-260726-6.jpg
Những món trang sức truyền thống như vòng tay, vòng cổ, khuyên tai... được bày bán tại chợ phiên, góp phần làm phong phú thêm sắc màu văn hóa của đồng bào các dân tộc vùng cao.
nghe-an-260726-7.jpg
Các bà, mẹ người dân tộc Thái lựa chọn, mua sản phẩm đồng dùng cho sinh hoạt gia đình tại khu vực chuyên bán các sản phẩm truyền thống của đồng bào dân tộc Thái.
nghe-an-260726-8.jpg
Nhiều đàn ông đang lựa chọn kỹ độ mảnh của sợi đan, kích thước mắt lưới trên từng tấm lưới để mua về phục vụ công việc đánh bắt cá trên sông, suối.
Đông đảo người dân địa phương đang lựa chọn, mua sản phẩm tại khu bày bán các loại thau, rổ, dụng cụ đựng… trong chợ phiên, phục vụ nhu cầu lao động, sinh hoạt hằng ngày của người dân.

Đông đảo người dân địa phương đang lựa chọn, mua sản phẩm tại khu bày bán các loại thau, rổ, dụng cụ đựng… trong chợ phiên, phục vụ nhu cầu lao động, sinh hoạt hằng ngày của người dân.

Người phụ nữ là chủ sạp bán thịt mặc trang phục truyền thống trong ngày diễn ra chợ phiên để góp phần quảng bá văn hóa của dân tộc đến người dân, du khách.

Người phụ nữ là chủ sạp bán thịt mặc trang phục truyền thống trong ngày diễn ra chợ phiên để góp phần quảng bá văn hóa của dân tộc đến người dân, du khách.

nghe-an-260726-9.jpg
Một góc khu bày bán các loại thịt gia súc trong chợ phiên.
nghe-an-260726-12.jpg
Phụ nữ dân tộc Thái là chủ quày hàng bán các loại sản phẩm thịt sấy khô và ẩm thực truyền thống của đồng bào Thái đang lựa chọn, giao hàng cho khách.
Dân tộc Khơ Mú

Tên tự gọi: Kmụ, Kưm Mụ.

Tên gọi khác: Xá Cẩu, Khạ Klẩu, Mãng Cẩu, Tày Hạy, Mứn Xen, Pu Thềnh, Tềnh.

Dân số: 72.929 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).

Lịch sử: Khơ Mú là một trong những cư dân đã cư trú lâu đời nhất ở miền Tây Bắc Việt Nam. Bộ phận Khơ Mú cư trú tại miền núi các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An do chuyển cư từ Lào sang.

Hoạt động sản xuất: Là cư dân sinh sống chủ yếu bằng canh tác nương rẫy nên được gọi là "Xá ăn lửa". Ngoài hình thái du canh du cư là chủ yếu, bộ phận định cư thường canh tác nương theo chu trình vòng tròn khép kín. Cây trồng ngoài lúa ngô ra còn có bầu bí, đỗ và các loại cây có củ. Công cụ sản xuất gồm rìu, dao, cuốc, trong đó đáng lưu ý nhất là chiếc gậy chọc lỗ. Hoặc gậy đơn hoặc gậy kép (bịt sắt) có thể dùng nhiều năm. Hái lượm và săn bắn vẫn có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế. Nghề phụ gia đình chủ yếu là đan lát đồ gia dụng. Một số nơi biết thêm nghề rèn, mộc, dệt vải. Việc trao đổi, mua bán chủ yếu là hình thức hàng đổi hàng. Vỏ ốc "kxoong" trước kia được coi như vật ngang giá. Người Khơ Mú chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà phục vụ sức kéo và nhu cầu tiêu dùng, tín ngưỡng.

Ăn: Người Khơ Mú thường đồ xôi hay đồ ngô, độn sắn. Họ thích ăn những món có vị cay, chua, đắng, các thức ăn nướng có mùi như chẻo, nậm pịa, cá chua...

Mặc: Người Khơ Mú mặc giống người Thái, nhưng có điều khác là cách trang trí những hàng tiền bạc và vỏ ốc ở phía thân áo của phụ nữ. Ngày nay, phần lớn người Khơ Mú, nhất là nam giới đều ăn mặc theo người Việt.

: Hiện nay họ cư trú tại các tỉnh: Yên Bái, Sơn La, Lai Châu. Vì điều kiện du canh, du cư nên bản làng thường nhỏ bé, rải rác. Nhà sàn chủ yếu dùng cột không ngoãm, vách phên, sàn bương. Hiện nay nhiều nơi đã làm nhà khang trang, vững chãi hơn.

Phương tiện vận chuyển: Cơ bản là gùi có dây đeo trên trán, có ách và các loại túi đeo, bộ phận người Khơ Mú làm ruộng dùng thêm sọt gánh.

Quan hệ xã hội: Người Khơ Mú quan hệ chặt chẽ giữa những người đồng tộc và những người láng giềng, nhất là người Thái. Mỗi bản gồm nhiều gia đình thuộc các dòng họ khác nhau. Mỗi họ có trưởng họ. Người dân bản trong bản đã có phân hoá giàu nghèo. Những dòng họ người Khơ Mú đều mang tên thú, chim, cây cỏ... có thể chia làm 3 nhóm tên họ. Nhóm tên thú gồm hổ, chồn, cầy hương... Nhóm tên chim gồm phượng hoàng đất, chìa vôi, cuốc, bìm bịp... Nhóm tên cây gồm guột, rau đớn, dương xỉ, tỏi ... Ngoài ra còn một số họ mang tên vật vô tri như: rọ lợn, môi múc canh...

Cưới xin: Hôn nhân theo nguyên tắc thuận chiếu, đặc biệt trong phạm vi một dòng họ. Trong hôn nhân, nhiều tàn dư mẫu hệ còn tồn tại như tục ở rể, chồng mang họ vợ, hôn nhân anh em vợ, chị em chồng... Ðám cưới được tiến hành qua các khâu dạm hỏi, ở rể, lễ cưới ở bên nhà vợ và lễ đón dâu... Trai gái được tự do tìm hiểu nhưng quyền quyết định do bố mẹ, đặc biệt là ông cậu. Ông cậu là người có ý kiến quyết định tiền thách cưới, đồ sính lễ.

Ma chay: Ðám ma của người Khơ Mú gồm nhiều nghi thức tín ngưỡng. Ðặc biệt bài cúng tiễn hồn người chết kéo dài hàng giờ sau đó mới đem thi hài đi chôn.

Nhà mới: Lên nhà mới là dịp vui của gia đình và cả bản. Chủ nhà thường mổ lợn thiết đãi bà con xóm giềng. Ðây là dịp dân bản trình diễn các sinh hoạt văn nghệ có tính cộng đồng.

vna_potal_dien_bien_doc_dao_sac_mau_khong_gian_van_hoa_cac_cong_dong_dan_toc_trong_le_hoi_hoa_ban_nam_2023_6626009.jpg
Không gian văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Khơ-mú. Ảnh: Xuân Tiến – TTXVN

Lễ tết: Ngoài tết Nguyên đán ra, người Khơ Mú còn ăn tết cơm mới. Tết được tổ chức sau vụ gặt tháng 10 âm lịch. Ðây là dịp vui của cả bản sau một thời gian lao động mệt nhọc. Tết cơm mới của người Khơ Mú thể hiện hiện sắc thái văn hoá tộc người đậm nét. Họ còn duy trì nhiều nghi lễ liên quan đến nông nghiệp, trồng trọt.

Thờ cúng: Người Khơ Mú quan niệm có 5 loại ma quan trọng nhất là: ma trời, ma đất, ma thuồng luồng, ma tổ tiên và ma nhà. Ðó là các loại ma mang điều lành cho con người nhưng đôi khi giận dữ có thể gây tai hoạ trừng phạt con người.

Ngoài lễ cúng mường, người Khơ Mú còn lễ cúng bản, đặc biệt là lễ cúng ma nhà trong các dịp tết và khi con cháu trong nhà đau ốm. Bàn thờ ma nhà đặt trên gác bếp, còn ông bà thờ ở một gian riêng kín đáo và rất kiêng kỵ đối với người ngoài. Mỗi dòng họ vẫn duy trì tục thờ ma dòng họ với nghi thức và các động tác mang tính đặc trưng riêng.

Lịch: Ngoài theo lịch Thái, người Khơ Mú phổ biến cách tính ngày giờ căn cứ theo bảng cà la để vận dụng trong việc dựng nhà, cưới gả...

Học: Nhiều người biết đọc, viết chữ Thái.

Văn nghệ: Làn điệu dân ca quen thuộc nhiều người ưa thích là Tơm. Làn điệu này mang đậm tính sử thi, trữ tình. Cách hát theo kiểu đối đáp. Người Khơ Mú thích xoè, múa, thổi các loại sáo, các bộ gõ bằng tre, nứa tự tạo, đặc biệt là thổi kèn môi.

Chơi: Trong các ngày lễ tết, trẻ em hay đánh cầu lông làm bằng lông gà, đánh quay và các trò chơi dân gian khác.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khơ Mú
Dân tộc Ơ Đu

Tên tự gọi: Ơ Ðu hoặc I Ðu.

Tên gọi khác: Tày Hạt (người đói rách).

Dân số: 376 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á). Nay chỉ còn tiếng mẹ đẻ. Hầu hết người Ơ Ðu dùng các tiếng Khơ Mú, Thái làm công cụ giao tiếp hàng ngày.

Lịch sử: Xưa kia người Ơ Ðu cư trú suốt một vùng dọc theo hai con sông Nặm Mộ và Nặm Nơn. Nhưng tập trung nhất vẫn là dọc sông Nặm Nơn. Do nhiều biến cố trong lịch sử liên tiếp xảy ra ở vùng này buộc họ phải rời đi nơi khác hay sống hoà lẫn với các cư dân mới đến. Hiện người Ơ Ðu ở hai bản đông nhất là Xốp Pột và Kim Hoà, xã Kim Ða huyện Tương Dương, Nghệ An. Ở Lào họ hợp với nhóm Tày Phoọng cư trú ở tỉnh Sầm Nưa.

Hoạt động sản xuất: Người Ơ Ðu sinh sống chủ yếu bằng nương rẫy và một phần ruộng nước. Mỗi năm họ chỉ làm một vụ: phát, đốt, gieo hạt từ các tháng 4-5 âm lịch, thu hoạch vào các tháng 9-10. Công cụ làm rẫy gồm rìu, dao, gậy chọc lỗ. Ngoài lúa là giống cây trồng chính, còn trồng sắn, bầu, bí, ngô, ý dĩ, đỗ, hái lượm và săn bắn vẫn có vị trí quan trọng trong đời sống. Chăn nuôi trâu bò, lợn gà, dê khá phát triển. Trâu, bò dùng làm sức kéo, kéo cày, lợn gà sử dụng trong các dịp cưới, nghi lễ tín ngưỡng, cúng ma... Ðan lát đồ gia dụng bằng giang, mây, một phần tiêu dùng, phần để trao đổi. Xưa họ còn biết dệt vải.

Ăn: Người Ơ Ðu thường ăn 1 bữa phụ (sáng), 2 bữa chính (trưa và tối). Trước đây họ ăn xôi đồ, nay có cả cơm gạo tẻ, khi mất mùa ăn củ nâu, củ mài, hoặc sắn, ngô thay cơm. Họ thích uống rượu, hút thuốc lào.

Mặc: Hiện nay, nam và nữ đều ăn mặc theo kiểu người Thái, Việt trong vùng. Những bộ trang phục cổ truyền còn rất ít.

: Trước đây, ngôi nhà truyền thống, nhà sàn, phải dựng quay đầu vào núi (dựng chiều dọc). Khi dựng cột phải tuân theo một thứ tự nhất định. Nay kiểu nhà này không còn nữa. Họ ở sàn nhà giống như nhà sàn người Thái.

Phương tiện vận chuyển: Phổ biến hơn cả là gùi dây đeo bên trán. Gùi rất đẹp, bền chắc.

Quan hệ xã hội: Do số lượng dân số ít, sống xen kẽ với người Khơ Mú và Thái cho nên các mặt quan hệ xã hội văn hóa của họ chịu nhiều ảnh hưởng hai dân tộc này. Người Ơ Ðu lấy họ theo họ Thái, Lào. Tổ chức dòng họ rất mờ nhạt. Trưởng họ là người có uy tín, được kính trọng và có vai trò lớn trong dòng họ.

Gia đình người Ơ Ðu là gia đình nhỏ phụ quyền. Ðàn ông quyết định tất thẩy các công việc trong nhà. Phụ nữ không được hưởng thừa tự. Họ phổ biến tục ở rể. Lễ vật trong dịp cưới không thể thiếu là thịt sóc, thịt chuột sấy khô và cá ướp muối.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi tại góc nhà phía gian dành cho phụ nữ. Nhau trẻ bỏ vào ống tre đem chôn ngay dưới gầm sàn. Tuổi đứa con được tính từ ngày có tiếng sấm trong năm. Khi đó đứa bé được coi là đầy năm và được bố mẹ làm lễ đặt tên.

Thờ cúng: Người Ơ Ðu tin rằng khi người chết, hồn biến thành ma. Hồn thân thể ngụ tại bãi tha ma, hồn gốc ở chỏm tóc ở lại làm ma nhà. Ma nhà chỉ ở với con cháu một đời theo thứ tự từ con trai cả đến con trai thứ. Khi các con trai đã chết hết, người ta làm lễ tiễn ma nhà về với tổ tiên. Nơi thờ ma nhà tại góc hồi của gian thứ hai. Bàn thờ đơn giản, treo cao sát mái nhà.

Lễ tết: Người Ơ Ðu ăn tết Nguyên đán, tết cơm mới. Ngày hội lớn nhất là lễ đón tiếng sấm trong năm. Ngày đó, cư dân khắp nơi đổ về mở hội tế trời, mổ trâu, bò, lợn ăn mừng tại bản Xốp Pột, xã Kim Ða, Tương Dương, Nghệ An.

Văn nghệ: Người Ơ Ðu sử dụng thành thạo các loại nhạc cụ của người Khơ Mú, Thái như: sáo, khèn, chiêng, trống; thuộc các làn điệu dân ca Khơ Mú, Thái, kể chuyện dã sử.

Chơi: Người Ơ Ðu có vai trò chơi đánh khăng, chơi quay, ném còn, ô ăn quan.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Ơ Đu
Dân tộc Thái

Tên tự gọi: Tay hoặc Thay

Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.

Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).

Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.

Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.

Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.

Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...

Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.

Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.

: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.

Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.

Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).

Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:

Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.

Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.

Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:

Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).

Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.

Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.

Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.

Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.

Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.

Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.

Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.

Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Thái

Có thể bạn quan tâm

Đồng bào Khmer dâng y tắm mưa cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ

Đồng bào Khmer dâng y tắm mưa cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ

Sáng 26/7, tại chùa Khmer thuộc Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam, đồng bào dân tộc Khmer đã tổ chức lễ dâng y tắm mưa kết hợp cầu siêu tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ. Đây là hoạt động ý nghĩa hướng tới Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" và tôn vinh nét đẹp văn hóa tâm linh đặc sắc của đồng bào dân tộc Khmer.

Mê hoặc ruộng bậc thang mùa nước đổ ở Mường La

Mê hoặc ruộng bậc thang mùa nước đổ ở Mường La

Xã Mường La (tỉnh Sơn La) hiện có khoảng 360 ha đất trồng lúa. Ruộng bậc thang là loại hình canh tác đặc trưng của đồng bào các dân tộc trên địa bàn xã. Hằng năm, vào vụ cấy, nơi đây lại khoác lên mình màu xanh mướt của những dải mạ non đan xen giữa các tầng nước đổ, tạo khung cảnh nên thơ, yên bình giữa núi rừng Tây Bắc.

An Giang: Tết Quân - Dân năm 2027

An Giang: Tết Quân - Dân năm 2027

Từ trung tuần tháng 6/2026 đến 29/01/2027, Tết Quân - Dân năm 2027 của tỉnh An Giang được tổ chức tại xã Thạnh Lộc với chủ đề “Lực lượng vũ trang An Giang cùng với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Thạnh Lộc tiếp tục chung sức xây dựng nông thôn mới”.

Áo lính Cụ Hồ nơi tâm lũ Mường Than

Áo lính Cụ Hồ nơi tâm lũ Mường Than

Ngày 22/7/2026, tại tâm lũ Mường Than, hơn 350 chiến sĩ, cán bộ của Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Lai Châu vẫn đang miệt mài cứu dân, giúp dân, chung sức khắc phục thiên tai. Với phương châm "Còn dân là còn tất cả", ở đâu nhân dân gặp khó khăn, ở đó có bộ đội Cụ Hồ luôn hết lòng vì nhân dân phục vụ.

Quảng Ngãi: Mảng xanh hậu cần của Bộ đội Biên phòng trên đảo Lý Sơn

Quảng Ngãi: Mảng xanh hậu cần của Bộ đội Biên phòng trên đảo Lý Sơn

Trên đảo tiền tiêu Lý Sơn (đặc khu Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi), do điều kiện đất đai khô cằn, nguồn nước ngọt hạn chế nên việc tăng gia sản xuất luôn được cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Lý Sơn duy trì thường xuyên. Những luống rau xanh không chỉ góp phần cải thiện bữa ăn, nâng cao đời sống bộ đội mà còn thể hiện tinh thần chủ động khắc phục khó khăn, bám trụ nơi tuyến đầu bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. 

Mường Than (Lai Châu) tan hoang sau lũ quét, sạt lở đất

Mường Than (Lai Châu) tan hoang sau lũ quét, sạt lở đất

Tính đến ngày 20/7/2026, mưa lớn kéo dài trên địa bàn tỉnh Lai Châu đã gây lũ quét và sạt lở đất nghiêm trọng, trong đó xã Mường Than là địa phương chịu thiệt hại nặng nề nhất. Đến thời điểm hiện tại, thiên tai đã làm 5 người tử vong, 4 người mất tích và 9 người bị thương.

Lai Châu dồn lực giúp dân khắc phục thiên tai

Lai Châu dồn lực giúp dân khắc phục thiên tai

Sau 2 ngày xảy ra lũ quét tại xã Mường Than (Lai Châu), công tác cứu hộ đang hết sức khẩn trương nhằm khắc phục hậu quả và triển khai các biện pháp ứng phó với diễn biến thiên tai. Các lực lượng của tỉnh và địa phương đang tập trung tối đa nhân lực, phương tiện tham gia tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn và khắc phục hậu quả thiên tai để sớm ổn định cuộc sống của người dân.

Cận cảnh lũ quét tại xã Mường Than, tỉnh Lai Châu

Cận cảnh lũ quét tại xã Mường Than, tỉnh Lai Châu

Do ảnh hưởng của mưa lớn kéo dài, ngày 17/7/2026, trên địa bàn xã Mường Than (Lai Châu) xảy ra lũ quét, gây thiệt hại lớn về tài sản của nhân dân. Hiện tại, các cơ quan chức năng chưa thể thống kê đầy đủ mức độ thiệt hại cũng như số người bị ảnh hưởng do nhiều khu vực còn bị chia cắt. 

Lào Cai - Nơi hội tụ sắc màu Tây Bắc

Lào Cai - Nơi hội tụ sắc màu Tây Bắc

Tối 16/7/2026, tại Quảng trường 19/8, UBND tỉnh Lào Cai tổ chức chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng Hội nghị Xúc tiến đầu tư tỉnh Lào Cai năm 2026 với chủ đề “Lào Cai - Nơi hội tụ sắc màu Tây Bắc".

Vẻ đẹp hùng vĩ của đèo Ngoạn Mục

Vẻ đẹp hùng vĩ của đèo Ngoạn Mục

Đèo Ngoạn Mục nằm trên Quốc lộ 27, nối xã D'Ran (Lâm Đồng) với xã Lâm Sơn (Khánh Hòa), là một trong những cung đèo đẹp của khu vực Nam Trung Bộ - Tây Nguyên. Đèo dài khoảng 18km, uốn lượn qua các sườn núi, giữ vai trò cửa ngõ kết nối cao nguyên Lâm Đồng với vùng duyên hải Nam Trung Bộ. Từ đỉnh đèo, du khách có thể ngắm nhìn núi rừng, thung lũng và cảm nhận rõ sự chuyển tiếp khí hậu từ không gian mát mẻ của cao nguyên xuống vùng đồng bằng ven biển nắng ấm.

Lễ dâng nến và dâng bông đặc sắc trong văn hóa Phật giáo Nam tông Khmer

Lễ dâng nến và dâng bông đặc sắc trong văn hóa Phật giáo Nam tông Khmer

Lễ dâng nến và dâng bông là các nghi thức tâm linh đặc sắc trong văn hóa Phật giáo Nam tông Khmer. Lễ thường diễn ra vào dịp Lễ Nhập hạ (tháng 6 - tháng 9 âm lịch) hoặc Lễ dâng y Kathina (tháng 9 - tháng 10 âm lịch), các nghi lễ này cầu mong bình an, mưa thuận gió hòa và phum sóc yên ấm. 

Thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực biên giới tỉnh Đồng Tháp

Thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực biên giới tỉnh Đồng Tháp

Tỉnh Đồng Tháp có đường biên giới đất liền dài hơn 50 km, tiếp giáp tỉnh Prey Veng (Vương quốc Campuchia) với 6 xã, phường biên giới. Được sự quan tâm hỗ trợ của các cấp và các ngành, tình hình kinh tế - xã hội khu vực biên giới ngày càng phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 1,42%; thu nhập bình quân đầu người các xã, phường biên giới đạt từ 64 - 84 triệu đồng/năm; an ninh trật tự, an ninh biên giới ổn định.

Sức sống mới vùng đồng bào Khmer Vĩnh Long

Sức sống mới vùng đồng bào Khmer Vĩnh Long

Tỉnh Vĩnh Long đang bước vào giai đoạn phát triển mới, với mục tiêu xây dựng nông thôn hiện đại, giảm nghèo bền vững và phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

'Giữ lửa' lớp dạy chữ Khmer miễn phí tại TP Hồ Chí Minh

'Giữ lửa' lớp dạy chữ Khmer miễn phí tại TP Hồ Chí Minh

Mỗi dịp hè, cứ đúng 19 giờ hàng ngày, khuôn viên của chùa Pothiwong (phường Bảy Hiền, TP Hồ Chí Minh) lại vọng lên âm thanh đánh vần tiếng Khmer của các em nhỏ. Nhiều năm qua, chùa Pothiwong trở thành “ngôi nhà chung” của hàng trăm trẻ em Khmer trong hành trình gìn giữ, bảo tồn tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình.

Đà Nẵng: Rình rập nguy cơ sạt lở ở xã miền núi cao Trà Linh

Đà Nẵng: Rình rập nguy cơ sạt lở ở xã miền núi cao Trà Linh

Mặc dù đang mùa hè nhưng nguy cơ sạt lở ở xã miền núi cao Trà Linh (thành phố Đà Nẵng) luôn rình rập, có thể xảy ra bất cứ lúc nào, nhất là vào thời điểm xuất hiện những cơn mưa rừng nặng hạt. Vị trí có nguy cơ sạt lở cao thường ở những khu vực đã từng xảy ra sạt lở trong mùa mưa năm 2025.

Văn hoá soi đường: Đặc sắc lễ hội đình Chèm

Văn hoá soi đường: Đặc sắc lễ hội đình Chèm

Lễ hội đình Chèm tại phường Đông Ngạc (thành phố Hà Nội) diễn ra từ ngày 28 đến 30/6/2026 (tức 14 - 16/5 âm lịch), là một trong những lễ hội truyền thống tiêu biểu của vùng Đồng bằng sông Hồng và đã được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2016.

Mưa lớn gây lũ quét và sạt lở đất tại Tuyên Quang

Mưa lớn gây lũ quét và sạt lở đất tại Tuyên Quang

Đêm 28 rạng sáng 29/6/2026, do ảnh hưởng của mưa to đến rất to, gây lũ quét và sạt lở đất, đá, khiến giao thông ách tắc, thiệt hại nghiêm trọng về nhà ở, hoa màu, hạ tầng giao thông, công trình thủy lợi và sản xuất nông nghiệp tại một số xã vùng cao của tỉnh Tuyên Quang.

Quảng Ngãi tăng tốc hoàn thành các trường liên cấp biên giới

Quảng Ngãi tăng tốc hoàn thành các trường liên cấp biên giới

Đến cuối tháng 6/2026, 4 trường học liên cấp biên giới được khởi công từ cuối năm 2025 tại các xã Rờ Kơi, Mô Rai, Dục Nông và Sa Loong đã đạt tiến độ thi công từ 52 - 83%; trong đó, Trường Phổ thông nội trú liên cấp tiểu học - trung học cơ sở xã Mô Rai có tiến độ thi công thấp nhất khi mới đạt 52%.

Đẹp ngỡ ngàng sắc sen ở Lào Cai

Đẹp ngỡ ngàng sắc sen ở Lào Cai

Những ngày hè, đầm sen ở Việt Hồng, tỉnh Lào Cai, bước vào mùa nở rộ. Sắc hồng, trắng tinh khôi của hoa sen trải dài dưới chân núi tạo nên khung cảnh thơ mộng, thu hút đông đảo người dân và du khách đến tham quan, chụp ảnh.

Biên phòng Đà Nẵng giữ vững chủ quyền biên giới

Biên phòng Đà Nẵng giữ vững chủ quyền biên giới

Những năm qua, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Đắc Pring, thành phố Đà Nẵng, đã bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới quốc gia, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn được phụ trách.

Mưa lớn khiến đất đá bồi lấp nhiều nhà dân ở Tuyên Quang

Mưa lớn khiến đất đá bồi lấp nhiều nhà dân ở Tuyên Quang

Những trận mưa lớn kéo dài, nhất là trong đêm 16 và 17/6/2026, đã khiến đất đá, bùn đất từ khu vực thi công tuyến cao tốc qua xã Bắc Quang (Tuyên Quang) theo dòng nước tràn vào nhiều hộ dân ở thôn Minh Thắng. Nhiều ngôi nhà bị bùn đất vùi lấp từ 0,2 - 0,5m, gây thiệt hại về tài sản và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt của người dân.

Sơn La: Mùa thu hoạch lúa ở xã Yên Châu

Sơn La: Mùa thu hoạch lúa ở xã Yên Châu

Vụ lúa chiêm xuân đang bước vào giai đoạn chín rộ, mặc dù tiết nắng nóng, nhưng nông dân ở khắp các thôn bản của xã Yên Châu đang tập trung thu hoạch lúa, giải phóng đất chuẩn bị sản xuất vụ lúa mùa 2026.