Nằm ở vùng biên giới phía Bắc của thành phố Đồng Nai, xã Đăk Ơ và Bù Gia Mập từng được biết đến là vùng đất gặp nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế. Những năm gần đây, diện mạo các thôn nơi đây đang thay đổi từng ngày nhờ sự đóng góp không nhỏ từ ý chí kiên cường và tinh thần vượt khó của đồng bào Tày, Nùng là những người mang khát vọng vươn lên làm giàu trên quê hương thứ hai miền Đông Nam Bộ.
Rời quê hương Cao Bằng vào thôn Bù Bưng, xã biên giới Đăk Ơ lập nghiệp từ năm 1996 với số vốn ít ỏi, anh Chu Văn Thường (dân tộc Nùng) cùng vợ đã trải qua không ít thăng trầm. Nơi đất khách quê người, thời tiết khắc nghiệt cùng tình trạng thiếu vốn, thiếu kỹ thuật trở thành thử thách vô cùng lớn đối với gia đình anh.
Anh Thường chia sẻ: “Năm 2004, vợ chồng tôi mới ra ở riêng nên kinh tế rất khó khăn. Đến năm 2006, gia đình tôi sinh con lại càng vất vả hơn. Rời miền Bắc vào đây lập nghiệp, gia đình phải chắt chiu từng chút một để tích lũy vốn làm ăn, nuôi các con ăn học và trang trải cuộc sống”.
“Năm 2012, tôi đầu tư trồng tiêu. Giai đoạn 2012 - 2016, dịch bệnh trên cây tiêu bùng phát diện rộng khiến khoảng 65% diện tích tiêu trong thôn bị chết, nhưng nhờ tích cực tìm hiểu các giải pháp phòng trừ và chăm sóc đúng kỹ thuật, diện tích tiêu của gia đình tôi vẫn duy trì và phát triển tốt”, anh Thường chia sẻ thêm.
Nhờ đánh giá đúng thế mạnh từng loại cây, anh Thường chọn cây tiêu làm chủ lực, cây cao su cho nguồn thu lâu dài, còn cây điều đóng vai trò ổn định kinh tế. Tuy nhiên, yếu tố quyết định nhất vẫn là ý chí và tinh thần vượt khó. Anh khẳng định: Quan trọng nhất là sự quyết tâm, năng lực tự vươn lên và phải biết tích lũy, khai thác hiệu quả diện tích đất sản xuất thì mới có thể nâng cao chất lượng cuộc sống. Đến nay, mô hình kinh tế của anh Thường đã mang lại “quả ngọt” với 1 ha cao su, 1 ha tiêu (gần 2.000 gốc) và 1 ha điều đang cho thu hoạch. Sau khi trừ chi phí, gia đình anh thu lãi trên 500 triệu đồng mỗi năm và đã xây dựng được căn nhà khang trang trị giá hơn 1 tỷ đồng.
Không riêng gia đình anh Thường, nhiều hộ đồng bào dân tộc Nùng khác tại thôn Bù Bưng cũng đang vươn lên phát triển kinh tế mạnh mẽ. Hộ anh Mạc Văn Đường cũng ở thôn Bù Bưng với sự nhạy bén trong tư duy làm ăn đã giúp gia đình nhanh chóng ổn định cuộc sống, vươn lên làm giàu, dù chỉ mới vào vùng đất mới lập nghiệp từ năm 2002.
Với phương châm “lấy ngắn nuôi dài”, những năm qua, anh Đường dùng nguồn thu nhập từ 1 ha cao su đang khai thác cùng dịch vụ thu mua mủ nước trong thôn để tái đầu tư hàng trăm triệu đồng vào vườn cây ăn trái. Hiện gia đình anh đang chăm sóc 0,8 ha cây gáo bầu, 120 gốc sầu riêng Thái Lan từ 2 - 4 năm tuổi và 800 gốc cà phê giống mới đang trong giai đoạn cho thu hoạch.
Nhớ lại hành trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, anh Mạc Văn Đường chia sẻ: Khi mới vào Bình Phước lập nghiệp, gia đình tôi chọn trồng điều vì đây là cây xóa đói giảm nghèo dễ chăm sóc. Tuy nhiên, nhận thấy hiệu quả kinh tế không cao, tôi quyết định chuyển sang trồng tiêu. Đến năm 2018, dịch bệnh khiến vườn tiêu bị chết hàng loạt, gia đình phải quay lại trồng điều. Đến giai đoạn 2020 - 2021, tôi quyết định cắt bỏ toàn bộ diện tích điều để chuyển sang trồng sầu riêng và cà phê nhằm tối ưu hóa lợi nhuận trên cùng một diện tích canh tác”.
Bên cạnh xã Đăk Ơ, tại Thôn Cầu Sắt thuộc xã biên giới Bù Gia Mập, cộng đồng dân tộc Tày, Nùng cũng đã an cư lạc nghiệp, kinh tế phát triển ổn định và nhiều hộ là nông dân sản xuất giỏi.
Điển hình hộ sản xuất kinh doanh giỏi tiêu biểu tại thôn Cầu Sắt, ông Đinh Trường Giang (dân tộc Tày) thấu hiểu hơn ai hết những thăng trầm của nông nghiệp địa phương với các cây trồng chủ lực như: điều, tiêu và cà phê. Ông Giang cho biết: Nơi đây bà con trồng điều rất nhiều, nhưng nguồn thu nhập lại bấp bênh, giá cả thất thường và hay mất mùa. Nếu chỉ phụ thuộc vào một loại cây, người nông dân rất khó đứng vững trước biến động thị trường.
Để giải quyết bài toán kinh tế, từ năm 2007, ông Giang đã chủ động học hỏi kinh nghiệm, đi đầu cùng nhiều hộ dân trồng các loại cây như: cao su, tiêu, điều, cà phê. Gắn bó và thành công trên mảnh đất Bù Gia Mập. Ông Giang đúc kết kinh nghiệm phát triển bền vững trên quê hương thứ hai, muốn canh tác lâu dài thì ưu tiên sử dụng phân bón hữu cơ, vi sinh và giữ thảm thực vật tự nhiên để cải tạo đất và duy trì độ ẩm. Canh tác đa tầng kết hợp xen canh giúp tối ưu không gian, giảm rủi ro sâu bệnh và tạo hệ sinh thái vườn cân bằng để vườn cây phát triển bền vững, cho năng suất ổn định.
Qua mô hình canh tác hiệu quả, hộ gia đình ông Đinh Trường Giang là một trong những nông dân sản xuất kinh doanh giỏi của xã Bù Gia Mập trong nhiều năm qua.
Ông Điểu Thuận, Chủ tịch Hội Nông dân xã Bù Gia Mập chia sẻ: Cộng đồng dân tộc Tày, Nùng trên địa bàn là lực lượng góp phần không nhỏ trong các phong trào thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi tại địa phương. Sự thành công của họ không đến từ may mắn mà đến từ ý chí vươn lên mạnh mẽ và tinh thần không chịu lùi bước trước khó khăn.
Qua thực tiễn phát triển kinh tế của các hộ dân, có thể thấy rõ sự chuyển biến tích cực trong tư duy canh tác của bà con. Thay vì thụ động phụ thuộc vào tự nhiên hay trung thành tuyệt đối với lối làm ăn truyền thống, người Tày, Nùng đã thể hiện sự nhạy bén đặc biệt với thị trường. Họ linh hoạt chuyển đổi cơ cấu cây trồng, sẵn sàng sàng lọc và thay thế những loại cây kém hiệu quả để tìm kiếm mô hình tối ưu hơn.
Đặc biệt, tinh thần lấy ngắn nuôi dài, sự kiên trì ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật và tư duy phát triển nông nghiệp bền vững như: đa dạng hóa cây trồng, cải tạo đất, linh hoạt vượt qua rủi ro dịch bệnh… đã giúp họ đứng vững trên quê hương mới. Đây không chỉ là nguồn lực tự thân giúp các gia đình vươn lên làm giàu, mà còn tạo động lực lan tỏa, giúp thay đổi diện mạo nông thôn vùng biên giới./.
Tên tự gọi: Nồng.
Nhóm địa phương: Nùng Giang, Nùng Xuồng, Nùng An, Nùng Inh, Nùng Lòi, Nùng Cháo, Nùng Phàn Slình, Nùng Quy Rịn, Nùng Dín...
Dân số: 968.800 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai), cùng nhóm với tiếng Tày, tiếng Thái, và nhất là tiếng Choang ở Trung Quốc...
Lịch sử: Người Nùng phần lớn từ Quảng Tây (Trung Quốc) di cư sang cách đây khoảng 200-300 năm.
Hoạt động sản xuất: Người Nùng làm việc rất thành thạo nhưng do cư trú ở những vùng không có điều kiện khai phá ruộng nước cho nên nhiều nơi họ phải sống bằng nương rẫy là chính. Ngoài ngô, lúa họ còn trồng các loại củ, bầu bí, rau xanh...
Họ biết làm nhiều nghề thủ công: dệt, rèn, đúc, đan lát, làm đồ gỗ, làm giấy dó, làm ngói âm dương... Nhiều nghề có truyền thống lâu đời nhưng vẫn là nghề phụ gia đình, thường chỉ làm vào lúc nông nhàn và sản phẩm làm ra phục vụ nhu cầu của gia đình là chính. Hiện nay, một số nghề có xu hướng mai một dần (dệt), một số nghề khác được duy trì và phát triển (rèn). Ở xã Phúc Sen (huyện Quảng Hoà, Cao Bằng) rất nhiều gia đình có lò rèn và hầu như gia đình nào cũng có người biết làm nghề rèn.
Chợ ở vùng người Nùng phát triển. Người ta thường đi chợ phiên để trao đổi mua bán các sản phẩm. Thanh niên, nhất là nhóm Nùng Phàn Slình, thích đi chợ hát giao duyên.
Ăn: Ở nhiều vùng người Nùng ăn ngô là chính. Ngô được xay thành bột để nấu cháo đặc như bánh đúc. Thức ăn thường được chế biến bằng cách rán, xào, nấu, ít khi luộc. Nhiều người kiêng ăn thịt trâu, bò, chó.
Mặc: Y phục truyền thống của người Nùng khá đơn giản, thường làm bằng vải thô tự dệt, nhuộm chàm và hầu như không có thêu thùa trang trí. Nam giới mặc áo cổ đứng, xẻ ngực, có hàng cúc vải. Phụ nữ mặc áo năm thân, cài cúc bên nách phải, thường chỉ dài quá hông.
Ở: Người Nùng cư trú ở các tỉnh Ðông Bắc nước ta, họ thường sống xen kẽ với người Tày. Phần lớn ở nhà sàn. Một số ở nhà đất làm theo kiểu trình tường hoặc xây bằng gạch mộc. Ở ven biên giới trước kia còn có loại nhà làm theo kiểu pháo đài, có lô cốt và lỗ châu mai để chống giặc cướp.
Phương tiện vận chuyển: Các phương thức vận chuyển truyền thống là khiêng, vác, gánh, mang, xách. Hiện nay ở một số địa phương người Nùng sử dụng xe có bánh lốp do các vật kéo để làm phương tiện vận chuyển.
Quan hệ xã hội: Trước Cách mạng tháng Tám, xã hội người Nùng đã đạt đến trình độ phát triển như ở người Tày. Ruộng và nương thâm canh đã biến thành tài sản tư hữu, có thể đem bán hay chuyển nhượng. Hình thành các giai cấp: địa chủ và nông dân.
Cưới xin: Nam nữ được tự do yêu đương, tìm hiểu và khi yêu nhau họ thường trao tặng nhau một số kỷ vật. Các chàng trai tặng các cô gái đòn gánh, giỏ đựng con bông (hắc lì) và giỏ đựng con sợi (cởm lót).Còn các cô gái tặng các chàng trai áo và túi thêu.
Tuy nhiên hôn nhân lại hoàn toàn do bố mẹ quyết định, trên cơ sở hai gia đình có môn đăng hộ đối không và lá số đôi trai gái có hợp nhau hay không. Nhà gái thường thách cưới bằng thịt, gạo, rượu và tiền. Số lượng đồ dẫn cưới càng nhiều thì giá trị của người con gái càng cao. Việc cưới xin gồm nhiều nghi lễ, quan trọng nhất là lễ đưa dâu về nhà chồng. Sau ngày cưới cô dâu vẫn ở nhà bố mẹ đẻ cho đến sắp có con mới về ở hẳn nhà chồng.
Sinh đẻ: Ngoài lễ đặt bàn thờ bà mụ và lễ mừng trẻ đầy tháng ở một số nhóm Nùng còn tổ chức lễ đặt tên cho trẻ khi chúng đến tuổi trưởng thành.
Ma chay: Có nhiều nghi lễ với mục đích chính là đưa hồn người chết về bên kia thế giới.
Nhà mới: Làm nhà mới là một trong nhiều công việc hệ trọng. Vì thế khi làm nhà người ta rất chú ý tới việc chọn đất, xem hướng, chọn ngày dựng nhà và lên nhà mới với ước mong có cuộc sống yên vui, làm ăn phát đạt.
Thờ cúng: Thờ tổ tiên là chính. Bàn thờ đặt ở nơi trang trọng, được trang hoàng đẹp, ở vị trí trung tâm là bức phùng slằn viết bằng chữ Hán cho biết tổ tiên thuộc dòng họ nào. Ngoài ra còn thờ thổ công, Phật bà Quan âm, bà mụ, ma cửa, ma sàn, ma ngoài sàn (phi hang chàn)... và tổ chức cầu cúng khi thiên tai, dịch bệnh... Khác với người Tày, người Nùng tổ chức mừng sinh nhật và không cúng giỗ.
Lễ tết: Người Nùng ăn tết giống như ở người Việt và người Tày.
Lịch: Người Nùng theo âm lịch.
Học: Có chữ nôm Nùng dựa theo chữ Hán, đọc theo tiếng Nùng và chữ Tày - Nùng trên cơ sở chữ cái La-tinh.
Văn nghệ: Sli là hát giao duyên của thanh niên nam nữ dưới hình thức diễn xướng tập thể, thường là đôi nam, đôi nữ hát đối đáp với nhau và được hát theo hai bè.
Người ta thường Sli với nhau trong những ngày hội, ngày lễ, ngày chợ phiên, thậm chí ngay trên tàu, trên xe.
Chơi: Trong các ngày tết, ngày lễ, ngày hội thường có một số trò chơi như tung còn, đánh cầu lông, đánh quay, kéo co...
Theo cema.gov.vn
Tên gọi khác: Thổ.
Dân số: 1.626.392 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).
Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.
Hoạt động sản xuất: Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.
Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo... Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.
Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình).
Ở: Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.
Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.
Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng mảng để chuyên chở.
Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kỳ mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối.
Trong phạm vi thống trị của mình quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối... vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng tô lao dịch, bắt phải đến lao động không công và tô hiện vật, buộc phải cống nạp. Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Cưới xin: Nam nữ Tày được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.
Sinh đẻ: Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại.
Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.
Ma chay: Ðám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.
Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.
Thờ cúng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.
Lễ tết: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.
Lịch: Người Tày theo âm lịch.
Học: Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng... Chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ cái La-tinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp I vùng có người Tày, Nùng cư trú.
Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.
Chơi: Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông, kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng, đánh chắt, chơi ô...
Theo cema.gov.vn