Kĩ thuật trồng ngô lai

Kĩ thuật trồng ngô lai
1. Làm đất

- Phải dọn sạch cỏ dại và tàn dư cây trồng vụ trước.

- Đất được cày phơi ải trước khi gieo 1 tháng. Khi đất có đủ độ ẩm để gieo hạt tiến hành phay đất tơi xốp.

2. Thời vụ

- Hè thu: Gieo vào tháng 4, 5.

- Thu đông: Gieo vào tháng 7, 8.

- Đông xuân: Gieo vào tháng 11, 12.

Trồng ngô vụ đông xuân cần lưu ý:

+ Sử dụng giống có thời gian sinh trưởng ngắn.

+ Bố trí thời vụ trồng sao cho thời kỳ trổ cờ, phun râu không gặp nhiệt độ cao, gió lớn.
 

+ Tưới nước vào buổi chiều mát và phòng trừ sâu hại.

Trung tâm Khuyến nông quốc gia tổ chức cho các tỉnh nghiên cứu, học tập mô hình chuyển đổi đất lúa sang trồng ngô lai tại Phường Nhơn Hưng, thị xã An Nhơn (tỉnh Bình Định). Ảnh: Ly Kha – TTXVN
Trung tâm Khuyến nông quốc gia tổ chức cho các tỉnh nghiên cứu, học tập mô hình chuyển đổi đất lúa sang trồng ngô lai tại Phường Nhơn Hưng, thị xã An Nhơn (tỉnh Bình Định). Ảnh: Ly Kha – TTXVN

3. Lượng hạt giống gieo

- Lượng giống gieo: 15kg/ha. Đông xuân gieo dày hơn 18kg/ha.

- Mỗi hốc gieo 1 hạt. Gieo khi đất đủ ẩm (thử bằng cách nắm đất rồi bỏ ra, đất không rời, tay vừa ướt), gieo sâu 3 – 4 cm, gieo xong lấp đất lại. Lưu ý:

+ Không sử dụng hạt giống sau khi thu hoạch làm giống cho vụ tiếp theo.

+ Hạt giống đã được xử lý thuốc nên không sử dụng làm thực phẩm hay thức ăn gia súc.

+ Phải  rửa sạch tay sau khi gieo hạt.

4. Mật độ - khoảng cách

- Lựa chọn mật độ trồng căn cứ vào loại giống, mùa vụ, điều kiện đất đai, điều kiện thâm canh. Giống dài ngày gieo thưa hơn giống ngắn ngày. Vụ đông xuân gieo dày hơn vụ hè thu. Đất tốt gieo thưa hơn đất xấu.

- Khoảng cách trồng:

+ Vụ hè thu, thu đông: 70cm x 25cm ứng với mật độ 57.000 cây/ha.  70cm x 20 cm ứng với mật độ 71.000 cây/ha.
 

+Vụ đông xuân: 65 cm x 20cm/cây ứng với mật độ 77.000cây/ha.

+ Trồng hàng kép: 100 cm x 30 cm x 2 hàng, cây cách cây 25-30 cm.

5. Bón phân -chăm sóc

5.1. Lượng phân bón

Loại đất: (Tính cho 01 ha)

+ Đất đỏ bazan : 10 tấn phân hữu cơ  hoặc 500 kg visinh; 300kg urê; 350kg Lân VĐ; KCL là 150 kg

+ Đất xám:10 tấn phân hữu cơ  hoặc 500 kg visinh; 350kg ure; 400 lân VĐ; và 180kg KCL

+ Đất đen:10 tấn phân hữu cơ  hoặc 500 kg visinh; 300 kg ure; 400 lân VĐ và 180 kg KCL

5.2. Thời kỳ và tỷ lệ bón phân


- Bón lót: 10 tấn phân chuồng (hoặc 500 kg phân vi sinh) + 100% phân lân. Nếu đất chua bón thêm vôi 500kg/ha.

- Bón thúc 1: Sau khi gieo 12 - 15 ngày: bón 20% Urê + 20% Kali.

- Bón thúc 2: Sau khi gieo 25 -30 ngày: bón 40% Urê+ 40% kali.

- Bón thúc 3: Khi cây ngô xoáy nõn: bón 40%  Urê + 40% kali.

Trong quá trình bón phân cần kết hợp với làm cỏ, xới xáo và vun gốc.

Lưu ý: Bón phân khi đất đủ ẩm, bón xong lấp đất lại. Bón phân theo 4 đúng.

5.3. Phun phân bón qua lá:

     + Khi cây ngô có 5 – 6 lá

     + Khi cây ngô có 8 – 10 lá

     + Khi cây ngô xoáy nõn.

Lưu ý: Phun vào buổi chiều mát hoặc sáng sớm. 

5.4. Dặm cây:


Ðể dự trữ 10% hạt giống sau đó ngâm ủ nứt nanh đem dặm những chỗ hạt không mọc. Hoặc gieo dự trữ một lượng hạt giống xung quanh bờ để bứng cây con đem trồng.

Lưu ý: Khi dặm đất phải đủ ẩm, dặm lúc cây được 1-2 lá, dặm vào chiều mát và bón vài hạt đạm bổ sung.

5.5. Tỉa cây:


Khi cây được 3, 4 lá tỉa những cây yếu, sâu bệnh, những chỗ cây mọc dày chỉ để một cây khỏe nhất theo đúng khoảng cách đã chọn.

5.6. Làm cỏ, xới đất, vun gốc:

- Sau khi gieo 15-30 ngày xới nhẹ, vun nhẹ, sạch cỏ dại. Trước khi cây ngô xoáy nõn vun cao, sạch cỏ.


- Quản lý cỏ dại bằng thuốc: Phun thuốc cỏ tiền nẩy mầm sau khi gieo 1-2 ngày và phun diệt cỏ  khi cây ngô được 30 ngày và 90 ngày sau khi gieo.

5.7. Tưới nước:

- Nẩy mầm – 3 lá: Tưới phun nước ít.

- Từ 4- 9 lá: Tưới tràn ngâm 12 giờ rút cạn không để đọng nước.

- Nhú cờ: Tưới tràn tuyệt đối không để đọng nước.

- Thụ phấn - chín: Tưới giảm lượng nước.

6. Phòng trừ sâu hại


- Trừ kiến, mối, sâu xám, sùng đất dùng Basudin 10H: 20kg thuốc/ha. Trộn với đất bột theo tỷ lệ 1/10 rắc xung quanh hạt không để thuốc dính vào hạt.

- Phòng trừ sâu hại ngô: Sâu xám, sâu đục thân, sâu đục trái, sâu ăn lá.

+ Luân canh với các loại cây trồng khác. Vệ sinh đồng ruộng, dọn sạch tàn dư cây trồng vụ trước.

+ Gieo đúng thời vụ. Bảo vệ và lợi dụng ong ký sinh.

+ Dùng Basudin 10H rắc 3-4 hạt vào nõn ngô hoặc phun Vitako 40WG.

-Phòng trừ rệp hại ngô:

+Vệ sinh đồng ruộng, làm sạch cỏ dại, trồng đúng mật độ, làm thoáng ruộng ngô. Bảo vệ các loài thiên địch trên ruộng ngô. Dùng thuốc hoá học: Karate, confido, Regent

Nông dân xã Phước Hiệp, huyện Củ Chi thu hoạch ngô lai. Ảnh: Mạnh Linh-TTXVN
Nông dân xã Phước Hiệp, huyện Củ Chi thu hoạch ngô lai.
Ảnh: Mạnh Linh-TTXVN

7. Phòng trừ bệnh hại

Bệnh gỉ sắt, khô vằn, đốm lá nhỏ, đốm lá lớn, đốm nâu, thối thân, sọc lá.


+Vệ sinh đồng ruộng, thu dọn các tàn dư cây trồng vụ trước. Chọn giống kháng bệnh. Bón cân đối phân NPK và bón đúng cách. Chọn giống kháng bệnh. Khi cây bị bệnh hạn chế bón nhiều đạm, tăng cường bón kali. Sử dụng thuốc phòng trừ bệnh:

+Bệnh gỉ sắt, đốm lá, đốm nâu: Tilt Super 300EC, Anvil 5SC, Bayfidan, Amistar Top 325 SC....

+Bệnh khô vằn: Validacin, bóc lá bị bệnh đem đốt và rãi vôi 2 hàng giữa.

+Bệnh thối thân, bệnh sọc lá: Ridomil Gold 68WG...

8. Thu hoạch

- Thu hoạch khi ngô chín già ( râu khô, đen, bẹ ngô chuyển xanh sang màu vàng rơm).

- Thu hoạch khi trời nắng ráo. Không nên đổ đống vì ngô tươi có độ ẩm cao dễ bị mốc.

Theo khuyennongdaklak.com.vn

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.