Kỹ thuật nuôi cá chép

Kỹ thuật nuôi cá chép
1. Nuôi cá chép với các loài cá khác

Chọn ao nuôi 

Như các ao nuôi cá khác, điều kiện cho ao để nuôi cá chép là đất không bị chua mặn, gần nguồn nước sạch, không có mạch nước ngầm độc hại gây chết cá. Ao nên đào theo hình chữ nhật (chiều dài gấp rưỡi hoặc gấp 2 chiều rộng) gần chuồng trại chăn nuôi, gần gia đình để tiện quản lý, gần đường giao thông để dễ vận chuyển cá giống và bán cá khi thu hoạch. Môi trường ao nuôi cá luôn thoáng sạch, không bị ô nhiễm, nhiệt độ nước dao động khoảng 20-30 độ C, nước ao luôn có màu xanh nõn chuối (độ trong từ 10-20 cm), độ ph từ 6,5-8,5, oxy từ 3-8 mg/l, cò từ 3-10mg/l, nước ao không được có H2S, hàm lượng NH4 nhỏ hơn 1mg/l, hàm lượng sắt tổng cộng không vượt quá 0,2 mg/l, põ khoảng 0,5mg/l và hàm lượng hữu cơ từ 10-20mgo2/l.

Cá chép - Cyprinus carpio
Cá chép - Cyprinus carpio

Chuẩn bị ao nuôi cá 

Trước khi nuôi cá, phải chuẩn bị ao theo các bước sau:

- Tu sửa bờ ao, kiểm tra đăng cống, phát quang bờ.

- Tát hoặc tháo cạn ao, dọn sạch bèo, cỏ, vét bùn (nếu lượng bùn quá nhiều), san phẳng đáy, lấp hết hang hốc ven bờ ao.

- Tẩy vôi khắp đáy ao, để diẹt cá tạp và mầm bệnh, bầng cách rải đều từ 8-10 kg vôi bột cho 100m2 đáy ao. Nếu trong ao nuôi vụ trước, cá tôm bị bệnh hoặc ao bị chua thì lượng vôi tẩy ao tăng gấp 2 lần (từ 15-20kg/100m2).

- Phơi ao khoảng 3 ngày, bón lót bằng cách rải đều khắp ao 30-40 kg phân chuồng đã ủ kỹ và 40-50 kg lá xanh (lá thân mềm để làm phân xanh) cho 100 m2. Lá xanh được băm nhỏ rải đều khắp đáy ao. Dùng trâu bừa đáy ao 1-2 lượt cho phân xanh và lá lẫn vào bùn đồng thời lấp phẳng đáy ao.

- Lọc nước vào ao khoảng 0,5 m, ngâm ao từ 5-7 ngày nước ao sẽ có màu xanh nõn chuối (màu của phù du sinh vật), lọc nước tiếp vào ao đạt mức sâu 1 m trước khi thả cá. Càn lọc nước bằng đăng hoặc lưới đề phòng cá dữ, cá tạp tràn vào ao nuôi cá.

Tỷ lệ cá chép nuôi ghép tuỳ thuộc vào qui trình cua loài nào là đối tượng chính

+ Nuôi ghép cá chép tronh ao lấy các đối tượng khác là chính thì nên thả cá chép từ 5-10% và phải tính sao cho mỗi con cá chép có khoảng 10-20m2 đáy ao.

+ Nuôi cá chép trong các đầm hồ tự nhiên lấy các đối tượng khác là chính có thể cá chép tới 20-30% nhưng vẫn phải tính toán sao cho mỗi con cá chép không ít hơn 20-30 m2 đáy đầm hồ.

+ Nuôi ghép cá chép ở ruộng trũng có thể thả với tỷ lệ 50-60% là cá chép nhưng cũng phải tính sao cho mỗi con cá chép có từ 10-15 m2 ruộng.

- Mùa vụ thả cá giống: Có 2 mùa vụ thả cá giộng nuôi thành cá thịt. Vụ 1 từ tháng 2 đến tháng 3 (gọi là vụ xuân) và vụ 2 từ tháng 8 đến tháng 9 (gọi là vụ thu). Mùa vụ thả cá giống thích hợp nhất lá vụ 1, vì thả sớm vào vụ xuân sẽ tận dụng được nhiều thời gian sinh trưởng cảu các loài cá. Người ta thường thả cá giống lưu và thả đủ số lượng cá xuống ao trong khoảng 5-7 ngày đầu, không nên kéo dài thời gian thả cá giống trong cùng một ao.

Xử lý cá giống trước khi thả nuôi

- Dùng cá thử nước: cắm giai hay rổ thưa xuống ao, thả vào trong đó 10-15 con cá giống. Theo dõi cá từ 20-30 phút thấy cá hoạt động bình thường là được, nếu thấy cá yếu hoặc chết… thì phải tạm ngưng việc thả cá để giải quyết lại nguồn nước đã lấy vào ao. Trước khi thả cá lại ao cũng phải dùng cá để thử nước.

- Tắm cho cá giống đề phòng bệnh: cá giống khi vận chuyển về, trước khi thả, nên tắm qua nước muối ăn (NaCl) nồng độ 3%. Cách tắm: Dùng chậu chứa 10 lit nước sạch, hoà tan 300g muối ăn trong nước, dùng vợt bắt cá để tắm trong thời gian từ 10-15 phút.

- Tránh để cá bị “sốc” do chênh lệch nhiệt độ giữa nước ao và nước chứa cá: khi thả cá xuống ao nuôi, để đảm bảo an toàn cho cá, cần chú ý cân bằng nhiệt độ nước giữa 2 môi trường, nhất là cá giống vận chuyển đường xa trong mùa hè có nhiệt độ cao. Cách làm: ngâm túi cá xuống ao từ 5-10 phút trước khi thả. Thả cá: mở dây buộc túi, hai tay ấn dìm một nửa miệng túi xuống nước, cho nước ngoài ao từ từ vào túi, khi thấy cá khoẻ, bơi ngược dòng nước thì thả cá ra ao. Chú ý thả cá ở đầu gió cho cá phân tán nhanh ra ao.

Chất lượng và quy cỡ cá giống:

- Chất lượng cá giống: cá khoẻ mạnh, bơi lội hoạt bát theo đàn, phản xạ nhanh với tiếng động. Khi vớt lên cá quẫy lộn lung tung, toàn thân trơn bóng, không rách vây, không tróc vảy, không khô mình, không mất nhớt, không bệnh.

- Quy cỡ cá giống: tuỳ theo từng loài cá, điều kiện ao nuôi và thời gian nuôi. Đối với ao nhỏ, dể quản lý chăm sóc, thời gian nuôi dài thì thả giống nhỏ. Ao rộng khó chăm sóc quản lý hoặc nuôi trong thời gian ngắn thì thả cá giống lớn.

2. Nuôi đơn cá chép trong ao

Ao nuôi

Điều kiện ao và cách chuẩn bị ao nuôi đơn cá chép tương tự như ao nuôi ghép cá chép. Diện tích ao nuôi thích hợp là từ 1.000-2.000 m2 tới 2-3 ha.

Mật độ thả

Tuỳ theo cỡ cá cần đạt lúc thu hoạch để định mật độ cá cho phù hợp. Muốn đạt khối lượng cá thịt lúc thu hoạch trong bình 0,3-0,4 kg/con sau 6-8 tháng nuôi, thì có thể thả cá giống với mật độ 1 con/1,5-2 m2 ao.

Muốn đạt cỡ cá thịt lớn hơn, trung bình 0,7-0,8 kg/con lúc thu hoạch thì nên thả mật độ 1 con/3-4 m2 ao.

Trong ao nuôi đơn cá chép, có thể thả ghép thêm trắm cỏ (mật độ 1 con/200 m2) và cá mè trắng mật độ (1 con/100 m2 ao); không thả thêm các loài cá khác.

Chất lượng và quy cỡ cá giống thả trong ao nuôi đơn tương tự như ao nuôi ghép.

3. Quản lý chăm sóc

-Thức ăn cho cá trong ao nuôi ghép: tuỳ theo cơ cấu thành phần đàn cá nuôi trong ao và năng suất đạt được, thức ăn bổ sung trong ngày bằng 2-3% khối lượng cá trong ao. Thức ăn bổ sung bao gồm:các chất bột ngũ cốc (cám gạo, bột ngô, bột đậu tương, bột sắn…) từ 70-80% và bột cá, bột tôm, cua, ốc, nhái, giun đất, phế thải lò mổ… từ 20-30%. Thức ăn bỗ sung tự chế được trộn đều các thành phần và nấu chín, đùn viên dạng sợi hoặc nắm rải ven ao cho cá ăn, ngày 2 lần sáng và chiều tối. Lượng thức ăn tối thiểu cần đầu tư tham khảo ở bảng 1.

Bảng 1: Thức ăn trong ao nuôi ghép cá chép
 
Năng suất cá (tấn/ha/năm)  Thức ăn xanh (tấn/ha/năm) Thức ăn tinh (tấn/ha/năm)
2-3
3-5
Trên 5
30-40
40-50
Trên 50
2-3
3-5
Trên 5
-Thức ăn cho cá trong ao nuôi đơn: hàng ngày phải cho cá ăn thức ăn bổ sung gồm các loại:

Bột ngô, cám gạo: 70-80%

Đậu tương: 10-15%

Khô dầu, bã mắm: 5-10%

Bột cá nhạt: 3-5%

Tất cả nguyên liệu này được nghiền nhỏ trộn đều. Nếu có điều kiện làm thức ăn viên thì thay 10% cám gạo bằng chất kết dính như bột sắn, bột mì…

Nếu không có điều kiện làm thức ăn viên thì sau khi trộn đều, cho nước vào nhào nắm thành từng nắm nhỏ cho cá ăn ngay. Phải cho thức ăn vào các sàn ănđặt cách đáy ao 10-20cm.

Lượng thức ăn hằng ngày được tính (gần đúng) như sau:

Trong tháng thứ 1-2 là 7-10% khối lượng cá trong ao.

Trong tháng thứ 3-4 là 5% khối lượng cá trong ao.

Trong các tháng sau là 2-5% khối lượng cá trong ao.

Tuy nhiên trước khi cho cá ăn cần kiểm tra sàn thức ăn để xem cá có sử dụng hết thức ăn hay không.

Cần định kỳ mỗi tháng kiểm tra sinh trưởng và bệnh cá một lần, cân khối lượng cá của 25-30 để tính khối lượng cá trong ao, qua đó ta điều chỉnhlượng thức ăn cho phù hợp.

-Bón phân cho ao nuôi cá: ao nuôi ghép hay nuôi đơn cá chép nếu không có kết hợp chăn nuôi thì phải dung phân chuồng, phân xanh bón cho ao, mỗi tuần bón 1 lần, mỗi loại từ 10-15kg/100m2 ao/tuần. Nếu ao nuôi cá có kết hợp chăn nuôi gia súc , gia cầm theo tt3 lệ cân đối dưới đây thì không phải bón phân choao nuôi cá.

Nuôi kết hợp cá - lợn: là hình thức nuôi rất phổ biến

- Nếu nuôi lợn quy mô nhỏ (1-2 lợn), chuồng nuôi lợn có thể làm trên bờ hoặc trên mặt ao.

Nếu  nuôi quy mô lớn: chuồng trại phải nuôi ở nơi riêng. Các chất thải của lợn cần phải được chứa vào nơi riêng, ủ trước khi đem sử dụng.

Lượng phân lợn 100kg lợn hơi/ 1 ngày = 5,1kg tương đương 0,34kg cá.

1 năm nuôi 2 vòng, trọng lượng xuất chuồng 100kg/con có thể thải ra một lượng phân 900kg tương đương 60kg cá các loại, bình quân 15kg phân lợn nguyên chất cho 1 kg cá.

Ví dụ: nuôi 1 ha cá đạt năng suất 2 tấn/ha; số lợn cần nuôi là:

2.000kg *15kg/900kg = 33 con lợn/ha tương đương là 0,3 lợn/100m2.

Các loại cá nuôi trong mô hình nuôi ghép cá-lợn: nuôi ghép cá với các loại cá trôi, rô phi, mè làm chính.

Nuôi kết hợp cá – vịt: là hình thức kết hợp tốt, 2 loại có tác dụng tương hỗ lẫn nhau.

+Ao: cung cấp không gian hoạt động, thức ăn bổ sung cho vịt.

+Vịt: Bơi lội làm tăng oxy cho ao.

Khuấy đảo chất màu, chất thải của vịt làm thức ăn cho cá.

Diệt những động vật ăn tranh thức ăn của cá làm tăng năng suất cá nuôi.

Cách nuôi:

Quy mô nhỏ: chuồng vịt trên mặt ao, hoặc cạnh bờ ao.

Nuôi quy mô lớn: làm chuồng trại riêng trong đó có nơi cho vịt tắm, bơi lội, sàn cho ăn,bể chứa và xử lý chất thải. Dùng chất thải đã xử lý bón cho ao nuôi cá.

Lượng chất thải do 1kg vịt = 76-96gam/ngày.

27,3kg đến 34,5kg/năm = 3,6 đến 4,3kg cá thịt.

Nuôi cá thịt đạt 2 tấn /ha cần:

2000kg/3,6kg = 560 vịt nuôi quanh năm

Vịt có thể ăn cá con do đó trong ao nuôi kết hợp cá- vịt cần phải thả cá giống lớn, nước ao sâu trên 60cm.

Công thức thả cá: cá chép nuôi ghép mè, trôi, rô phi làm chính.

Nuôi kết hợp cá- gà: gà là loại gia cầm nuôi phổ biến, nuôi kết hợp gà-cá đang phát triển.

Cá đối với gà: ao tạo không gian thoáng mát, giảm được công quản lý, chăm sóc.

Gà đối với cá: gà cung cấp phân bón, thức ăn rơi vãi( 10-15%), giảm được cong vận chuyển, nơi chứa đựng thức ăn.

Cách nuôi:

Chuồng gà thường được làm trên bờ hoặc trên mặt ao, nuôi gà lấy trứng hoặc gà thịt.

Lượng phân thải ra của 100kg gà thịt = 6,6kg/ngày = 0,5 đến 0,6kg cá thịt.

Để nuôi 1ha cá ao đạt 2 tấn/ha cần 1500 đến 2000 con gà.

100m2 cần 15-20 gà thịt hoặc gà trứng nuôi quanh năm.

Các loại cá dùng trong nuôi kết hợp gà-cá: những loài cá có sức chịu đựng tốt, thường nuôi ghép: cá chép, trê lai, tra, rô phi, rô hu.

-Bổ sung nước mới vào ao nuôi cá: để ổn định mức nước trong ao nuôi cá, sau 3-4 ngày phải thêm nước mớivào ao khoảng 20-30cm. Những ao có điều kiện tưới tiêu chủ động mỗi tháng 1 lần, có thể rút 1/3 nước cũ ở đáy ao, trước khi thêm nước mới.

-Biện pháp quản lý ao nuôi cá: hàng ngày phải thăm ao 2 lần sáng sớm và chiều tối, để phát hiện các hiện tượng có ảnh hưởng đến ao cá như: hiện tượng cá nổi đầu, nước ao bạc màu, đăng cống hư hỏng, cá bị đánh trộm v.v… người quản lý ao phải nắm vững màu nước ao thay đổi, tình trạng hoạt động của cá trong ao: cá no, cá đói, sức lớn của cá, bệnh tật, nước ao thiếu oxy, nước ao cạn, theo dõi thời tiết,.. Để điều chỉnh kế hoạch chăm sóc và xử lý kịp thời các tình huống có ảnh hưởng xấu đến ao nuôi cá. Ví dụ:

Thấy trên sàn ăn còn thừa thức ăn là cá no, phải rút bớt khẩu phần ăn.

Thấy trên sàn ăn hết thức ăn, nước ao đục ngầu, là cá đói phải tăng thêm thức ăn.

Nước ao giàu dinh dưỡng, có màu xanh lá chuối non.

Cá nổi đầu bình thường: vào buổi sáng cá nổi thành từng đán, bơi lội thoải mái, phản ứng nhanh với tiếng động, cá lặn hết khi mặt trời mọc.

Cá nổi đầu do ao thiếu oxy hoặc bị bệnh: cá bơi lội dáng mệt mỏi, bơi lẻ tẻ mỗi con một hướng, không bơi theo đàn, ven bờ ao có tôm tép chết dạt… khi mặt trời mọc lâu, cá vẫn chưa lặn. Cần phải cấp cứu: ngừng hẳn bón phân,ngừng cho cá ăn, bơm ngay nước mới vào ao, vớt hết cỏ rác, xác lá dầm, rau bèo, … té nước trên mặt ao hoặc dùng lưới không có chì kéo dồn cá về khu vực có nước mới đang chảy vào ao.

Giữ mức nước ao từ 1,5-2m để chống nóng và chống rét cho cá. Có thể thả bèo, rau muống rộng 1-2m, ngăn ô quanh bờ ao.

Kiểm tra ao đột xuất khi có mưa to, gió lớn, bão giông..

Chống các loại dịch hại bắt cá như:rái cá, rắn nước, chim bắt cá,…

Phòng tránh các hình thức đánh trộm cá.
Theo tepbac.com

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.