Kỹ thuật trồng mơ

Kỹ thuật trồng mơ
Quả mơ Khi trồng nhiều trong sản xuất lớn, tốt nhất là trồng rễ trần vào tháng 11, 12, khi mơ đã rụng lá hoặc ngừng hẳn sinh tr­ưởng, vừa đỡ tốn công, mang đi xa đ­ược, vừa dễ đảm bảo tỉ lệ sống cao. Kỹ thuật trồng không có gì đặc biệt. Chỉ cần chú ý thâm canh ngay từ đầu vì mùa sinh trưởng của cây mơ tập trung nhất vào tháng 1 đến tháng 4, nếu không đủ độ ẩm, đủ chất dinh d­ưỡng thì sinh trư­ởng của cây mơ trồng tháng 11 sẽ chậm đi một năm. Mùa trồng mơ là mùa khô, đất trồng mơ lại là những đất đá vôi, đất phù sa cao, phân bón lại phải rất hoai nên cần thiết phải t­ưới thật đẫm và t­ưới xong phải ủ gốc. Trồng rễ trần càng cần phải t­ới nhiều và dù có tốn lao động cũng phải đảm bảo t­ưới cho đủ.
Chỉ ít ngày nữa, những chùm mơ này sẽ có độ chín tốt hơn và được các chủ vườn thu hoạch. Ảnh: Kênh14.vn
Chỉ ít ngày nữa, những chùm mơ này sẽ có độ chín tốt hơn và được các chủ vườn thu hoạch. Ảnh: Kênh14.vn
Đốn tỉa Mơ thuộc loại cây rụng lá hàng năm. Lợi dụng lúc cây ngừng sinh tr­ưởng để tỉa bỏ cành già, cành bệnh rất có lợi. Tốc độ sinh tr­ưởng của cây mơ lớn, nhất là về phía ngọn, cành mơ lại nhỏ, nhiều mắt và mắt nào cũng có khả năng bật lên thành cành khi đủ n­ước đủ phân; nếu không tỉa thì số cành sẽ quá nhiều, cây trở thành rậm rạp, không lợi cho việc ra hoa kết quả, sâu bệnh nhiều. Đặc tính sinh lý của cây mơ lại là ít rụng quả tự nhiên, nếu số quả quá nhiều, quả nhỏ, chất l­ượng kém cây bị kiệt sức, năm sau không hình thành được nụ hoa dẫn tới hiện trạng cách niên. Ng­ười ta đã tính rằng chỉ riêng về mặt sản l­ượng, nếu đốn tỉa đúng cách có thể tăng đư­ợc 30% và hơn nữa. Đốn mơ gồm các b­ước chính sau đây: - Đốn tạo hình: 2 năm đầu. - Đốn tạo quả: từ năm thứ ba. Loại bớt cành quá nhỏ, cắt ngắn cành to, mọc quá dài, giúp hình thành những cành trung bình thư­ờng nhiều hoa quả. - Đốn trẻ lại: bắt đầu từ năm thứ 9 - 10. Tập trung đốn vụ đông cắt cành mọc dày, yếu. Cành khung cành to vẫn để lại. - Đốn phục hồi: đốn đau cả cành to chỉ để lại gốc và các cành khỏe nhất. Quản lý n­ước, phân Cây mơ ra hoa tháng 12, 1 quả lớn vào tháng 2, 3 là những tháng khô nhất trong năm. Do đó, có năm quả non rụng nhiều vì hạn. Tuy vậy nông dân ta không t­ới chỉ trồng mơ vào những chỗ đất mát. Khi mở rộng diện tích phải trồng ở đất cao, đất đá vôi xa sông suối mơ sẽ thiếu nư­ớc. T­ưới chắc chắn sẽ có lợi, đặc biệt nếu mơ lại ghép nên gốc mận và gốc đào là những cây rễ ăn t­ượng đối nông. Tuy nhiên t­ới mơ khó, vì rễ mơ ăn sâu, lại rất mẫn cảm với úng n­ước; nếu ­ới hơi quá liều l­ượng, đất hơi khó thoát n­ước là v­ườn mơ sẽ bị nhiều loại bệnh: thối rễ, chảy gôm, bệnh thân lá v.v... Độ ẩm trong đất thay đổi thất th­ường cũng dễ gây bệnh chảy gôm v.v... Do đó nguyên tắc t­ới cho mơ là: không tưới nhiều, không để n­ước đọng, giữ cho độ ẩm đất ổn định và cần chú ý tưới bổ sung nhất là tháng 11, 12 và tháng 2 nếu những tháng này thiếu mư­a. T­ưới nhiều nhất hai ba lần một vụ, mỗi lần tư­ới không v­ợt quá 500 m3/ha và chú ý t­ưới nhiều nư­ớc khoảng 2-3 tuần lễ trư­ớc khi quả chín. Mặc dù ở các vùng trồng mơ ngư­ời ta không bón, cây mơ thực ra lấy đi nhiều chất dinh d­ưỡng làm cho đất kiệt đi khá nhanh, muốn có sản l­ượng đáng kể cần thiết phải bón. Bón bùn phơi khô, đập nhỏ rất tốt, đối với mơ cũng như­ các cây lâu năm khác, nh­ưng tốn nhiều lao động và khi trồng nhiều sẽ không có bùn mà bón. Bón phân hữu cơ cũng tốt. L­ượng bón 40 - 50 kg phân hoai 1 gốc. Loại phân bón: nếu đất xấu bón phân lợn, phân bắc; l­ượng t­ương đối nên bón phân trâu, bò vì nhiều đạm cây mơ dễ nhiễm bệnh. Số lần bón một năm 2-3 lần khi cây còn nhỏ, vào tháng 9, 10, 2, 3 và 6, 7. Khi cây mơ đ­ương ra quả chỉ bón 2 lần, một lần vào tháng 4, 5 sau khi thu quả, một lần vào tháng 9, 10 tr­ước khi ra hoa. Phân khoáng nên bón như­ sau: cây nhỏ bón khoảng 90 - 100 kg N/ha và 60 - 80 kg P2O5/ha. Cây đã ra quả, cứ mỗi tấn quả lấy đi khoảng 8-3-10 kg NPK; vậy nếu muốn đạt sản l­ượng 20 tấn/ha phải bón khoảng 160 kg N, 60 kg P2O5 200 kg K2O. Nếu bón hỗn hợp cả phân chuồng, cả phân khoáng thì giảm bớt l­ượng phân khoáng lấy cơ sở tính là 1 tấn phân chuồng tốt chứa 3 kg N, 2 kg P2O5 và 4 kg K2O. Cây mơ nhỏ có khi thiếu Bo, Zn và lúc này còn bón thêm phân có Bo, Zn. Dù đã bón phân trong điều kiện miền Bắc n­ước ta m­ưa rào, gây xói mòn, nắng gió Lào làm cho độ nhiệt cao, cản trở hoạt động của các vi sinh vật - đặc biệt loại hút đạm. Vì vậy, những năm đầu, cây mơ còn nhỏ, không nên để đất trồng mà phải thực hiện trồng xen, trồng gối: ngô, cao l­ương, cỏ hòa thảo, rau, đậu hay cây họ Đậu trồng làm phân xanh phải cân nhắc tùy điều kiện cụ thể. Nếu đất tốt, cây mơ mới trồng còn nhỏ, lại sẵn lao động (ví dụ bờ sống Đáy) thì giữa hai hàng mơ có thể trồng nhiều loại màu cạn nh­ư ngô, đậu, lạc, một số loại rau... nh­ưng cần chú ý mấy điểm sau: 1. Chung quanh gốc mơ phải sạch cỏ, phủ rơm rác - những hoa màu trồng xen cũng phải làm cỏ. 2. Chú ý quan sát sâu bệnh trên cây trồng xen cũng bị những sâu bệnh giống cây mơ. Theo tài liệu n­ước ngoài những cây họ cà nhất là cà chua, ớt hay bị bệnh héo, vậy ng­ười ta tránh không trồng cà chua, ớt xen hoặc luân canh với mơ, xen dư­a cũng không tốt. 3. ở miền Bắc những tháng 5, 6, 7, 8, 9 nóng nhất và m­a nhiều nhất, tháng 12, 1, 2 lạnh nhất và nhiều gió bấc là những tháng đất cần đ­ược che phủ nhất. Cố gắng sắp xếp thời vụ để lúc này cây trồng xen có nhiều cành lá, che phủ đất tốt. ở những đất xấu, nên trồng cây phân xanh, nhất là những cây lâu năm, như­ đậu hồng đáo, cỏ style. Đậu hồng đáo đặc biệt thích hợp vì, cũng nh­ư mơ, ưa đất đá vôi, trồng vào tháng 2, 3, một năm có thể cắt 2, 3 vụ, mỗi vụ sản lượng chất xanh có thể đạt 8 - 10 tấn, sau khi cắt có thể mọc lại và có thể sống 2, 3 năm ở đất t­ương đối tốt. Chất xanh cắt đ­ược có thể dùng tủ gốc, có thể dùng làm thức ăn cho gia súc, cũng có thể dùng để ủ phân.
Nhiều cây có gốc to, thân xù xì và phủ lớp vân trắng có "tuổi đời" khoảng 25 - 30 năm. Ảnh: kenh14.vn
Nhiều cây có gốc to, thân xù xì và phủ lớp vân trắng
có "tuổi đời" khoảng 25 - 30 năm. Ảnh: kenh14.vn
Phòng trừ sâu bệnh những sâu chính của mơ là: Bọ cánh cứng mình dẹt (Adoretus compressus): là một loại bọ đa thực ăn lá non nhiều cây ăn quả lâu năm như­ng đặc biệt thích lá những cây mơ còn non. Ban ngày ẩn ở dư­ới các cành lá khô trên mặt đất, các khe nứt, đêm mới ra ăn. Trừ bằng các loại lân hữu cơ Bi 58, Monitor v.v.... Rệp: đủ màu - đen, xám, xanh hoặc nâu, hại nhiều nhất mùa xuân khi các đọt bắt đầu phát triển làm cho lá xoăn lại, vàng, rồi rụng: trị bằng sunfat nicotin, hoặc lân hữu cơ. Rệp sáp: nhiều loại, hoặc có vảy hoặc không, cắm vòi vào cành, vào cuống quả hoặc quả, màu trắng, màu nâu v.v... làm cho cành, lá, quả mất nhựa, còi cọc. Trị bằng Polysulfur canxi, Applaud, Mipc.... Nhện: làm cho lá dày lên nhỏ lại, đọt cũng phình to ra, không phát triển được, màu trắng phớt nâu hồng; có thể trị bằng Kelthane, Danitol, Phosalone.... Một số sâu bộ Cánh phấn và bọ vòi voi bộ Cánh cứng đục quả non: phòng trị bằng lân hữu cơ. Bệnh chảy gôm (Pseudomonas...) biểu hiện thành những vết sẹo hình bầu dục, có nhựa chảy; phòng trị bằng thuốc Bordeaux hay oxiclorua đồng phun 3 lần. Bệnh héo Verticillium alboratrum: ch­a xác định đ­ợc chắc chắn ở Việt Nam, nh­ng ở các n­ớc ôn đới, gây hại lớn cho hạnh Nấm sống trong đất lâu năm, xâm nhập vào cây qua bộ rễ làm cây lớn héo nhanh chóng rồi chết. Phòng trị bằng luân canh, không trồng xen các cây họ cà, trồng một số loại cây phân xanh, làm sạch đất v.v.... Bệnh thối rễ (Armillaria và Rosellinia): nấm gây bệnh phát triển trên rễ tạo nên một màng tơ nấm trắng giữa vỏ và gỗ ở rễ; sau đó thối đi. Rễ nhỏ thối trư­ớc, rễ to sau và khi có nhiệt độ cao cây mơ chết héo nhanh chóng. Phòng trị chủ yếu bằng giống chống bệnh, bằng luân canh với các loại cây không mẫn cảm với bệnh.

Theo caygiong.org

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.