Theo quan niệm của đồng bào Ba Na, lễ cầu an được tổ chức với mong muốn xua đuổi những điều xấu, dịch bệnh, tai ương và các thế lực siêu nhiên không tốt ra khỏi buôn làng. Người dân cầu mong các thành viên trong cộng đồng khỏe mạnh, gia đình ấm no, cuộc sống yên bình, sản xuất thuận lợi và các vụ mùa đạt năng suất cao.
Lễ hội thường được tổ chức vào khoảng tháng 11 - 12 dương lịch, khi mùa màng đã thu hoạch xong. Đây là thời điểm người dân tạm gác công việc nương rẫy để cùng nhau chuẩn bị nghi lễ, tạ ơn thần linh và cầu mong một năm mới thuận lợi.
Theo những câu chuyện được lưu truyền trong cộng đồng, lễ cầu an bắt nguồn từ thời xa xưa, khi buôn làng từng xảy ra dịch bệnh, điều kiện thuốc men còn thiếu thốn khiến nhiều người tử vong. Dân làng đã tổ chức lễ cúng, cầu xin các Yang - thần linh theo tín ngưỡng truyền thống - che chở, xua đuổi tà ma và bệnh tật. Từ đó, nghi lễ được duy trì và truyền lại qua nhiều thế hệ.
Trước ngày tổ chức, già làng cùng dân làng phát dọn đường đi, vệ sinh khu vực sinh hoạt chung, sửa sang nhà Rông, bến nước và chuẩn bị không gian làm lễ. Tùy điều kiện của từng buôn làng, lễ vật dâng cúng thần linh gồm lợn, gà, rượu cần và những sản vật phù hợp.
Đến ngày lễ, người dân tập trung tại khu vực nhà Rông. Già làng là người chủ trì, hướng dẫn chuẩn bị lễ vật và thực hiện các nghi thức cúng. Trong lời khấn, già làng cầu mong thần linh bảo vệ buôn làng khỏi bệnh tật, tai họa; phù hộ cho dân làng khỏe mạnh, lúa ngô đầy kho, cuộc sống ngày càng no đủ.
Sau phần lễ, không khí buôn làng trở nên sôi động với tiếng cồng chiêng và những vòng xoang truyền thống. Người dân cùng chung vui, uống rượu cần, giao lưu và thắt chặt tình đoàn kết cộng đồng.
Không chỉ mang ý nghĩa tâm linh, lễ cầu an còn là không gian bảo tồn văn hóa của đồng bào Ba Na. Thông qua nghi lễ, tiếng cồng chiêng, điệu xoang và phong tục cộng đồng, thế hệ trẻ có thêm cơ hội hiểu về truyền thống của cha ông, qua đó góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa các dân tộc Tây Nguyên trong đời sống hôm nay.
Tên tự gọi: Ba Na.
Tên gọi khác: Bơ Nâm, Roh, Kon Kđe, Ala Kông, Kpang Kông...
Nhóm địa phương: Rơ Ngao, Rơ Lơng (hay Y Lăng), Tơ Lô, Gơ Lar Krem.
Dân số: 227.716 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).
Lịch sử: Dân tộc Ba Na là một trong những cư dân sinh tụ lâu đời ở Trường Sơn - Tây Nguyên đã kiến lập nên nền văn hoá độc đáo ở đây. Họ là tộc người có dân số đông nhất, chiếm vị trí rất quan trọng trong các lĩnh vực văn hoá, xã hội ở các cao nguyên miền Trung nước ta.
Hoạt động sản xuất: Người Ba Na canh tác lúa trên ruộng khô và rẫy. Cái cuốc là công cụ chủ yếu trong canh tác nông nghiệp ở tộc người này. Với ruộng khô thì việc thâm canh không bỏ hóa là đặc điểm khác với rẫy. Ruộng khô thường ở vùng ven sông suối. Từ đầu thế kỷ XX, việc làm ruộng nước bằng cày đã ngày càng phát triển ở nhiều nơi. Vườn chuyên canh và vườn đa canh cũng xuất hiện từ lâu. Công việc chăn nuôi và các nghề thủ công như: đan, dệt, gốm, rèn còn chưa phát triển.
Ở: Ðịa bàn cư trú của người Ba Na trải rộng trên các tỉnh Gia Lai, Kon Tum và miền Tây của Bình Ðịnh, Phú Yên và Khánh Hòa. Họ cư trú trên nhà sàn, cửa ra vào mở về phía mái, trên hai đầu đốc đều có trang trí hình sừng, ở giữa làng được xây cất một ngôi nhà công cộng - nhà làng, nhà rông với hai mái vồng và cao vút. Ðó là nhà khách của làng, nơi diễn ra mọi sinh hoạt chung của cộng đồng làng như giáo dục thanh thiếu niên, tổ chức nghi lễ, hội làng, xử án...
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là cái gùi cõng trên lưng, cho nam, nữ và cho mọi lứa tuổi. Gùi nhiều kích cỡ to nhỏ và nhiều chủng loại, đan mau và thưa nhưng đều theo một mô típ cổ truyền.
Quan hệ xã hội: Làng là đơn vị xã hội hoàn chỉnh và duy nhất. Tàn dư mẫu hệ vẫn thể hiện rõ trong quan hệ gia đình, tộc họ và trong hôn nhân. Sự tan rã của chế độ mẫu hệ ở đây đã nâng cao địa vị của nam giới nhưng phía mẹ vẫn gần gũi hơn. Sau hôn nhân còn phổ biến tập quán cư trú phía nhà vợ. Xã hội có người giàu, người nghèo và tôi tớ.
Theo cema.gov.vn