Liên kết chuỗi để phát triển ngành tôm bền vững ở Sóc Trăng

Liên kết chuỗi để phát triển ngành tôm bền vững ở Sóc Trăng

Nghề nuôi và chế biến thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Sóc Trăng. Sản phẩm tôm cũng là mặt hàng xuất khẩu đem lại ngoại tệ nhiều nhất cho tỉnh với kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD trong năm 2021. Tuy nhiên, mặt hàng này luôn chịu nhiều áp lực bởi sự cạnh tranh quyết liệt từ nhiều nước trên thế giới. Cũng chính vì vậy mà liên kết chuỗi trong nuôi và chế biến tôm được xem là yếu tố then chốt để ngành tôm có được sự đảm bảo phát triển đồng bộ từ khâu nuôi, chế biến cho đến xuất khẩu.

Liên kết chuỗi để phát triển ngành tôm bền vững ở Sóc Trăng ảnh 1Kiểm tra, phòng chống dịch bệnh trên những diện tích tôm đã thả nuôi. Ảnh: Trung Hiếu - TTXVN

Thời gian gần đây, việc tăng cường kết nối giữa người nuôi tôm và doanh nghiệp thu mua, chế biến được ngành nông nghiệp Sóc Trăng xem đây là nhiệm vụ quan trọng và rất chú trọng. Tuy vậy, việc thúc đẩy mạnh hơn chuỗi liên kết này cần sự cộng hưởng của nhiều yếu tố để ngành tôm Sóc Trăng phát triển bền vững.

Từ nhiều năm nay, Hợp tác xã Nông ngư 14/10 ở ấp Hòa Nhờ A, xã Hòa Tú 2, huyện Mỹ Xuyên (Sóc Trăng) là một trong những mô hình kinh tế tập thể làm ăn có hiệu quả trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản. Tất cả bắt nguồn từ sự thay đổi nhận thức của các thành viên. Từ sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, chủ yếu là nuôi tôm ao đất, nhiều hộ nuôi tôm trong vùng đã mạnh dạn liên kết cùng nhau trong việc đồng nhất quy trình thả nuôi tôm theo hình thức lót bạt đáy, nuôi tôm theo chuẩn VietGAP, ASC...

Từ khi thay đổi quy trình canh tác, sản lượng tôm của hợp tác xã tăng lên gấp 10 lần so với năm 2012, tính riêng trong năm 2021, sản lượng tôm của hợp tác xã đạt hơn 160 tấn. Không chỉ có sự tăng trưởng vượt trội về sản lượng, lượng tôm thu hoạch tại hợp tác xã cũng được doanh nghiệp liên kết thu mua với mức giá cao hơn so với thị trường.

Theo ông Ngô Công Luận, Giám đốc Hợp tác xã Nông ngư 14/10, khi các hộ cùng nhau tham gia vào hợp tác xã thì sản lượng tôm sẽ nhiều hơn và khi thực hiện ký kết thu mua cũng rất dễ. Bên cạnh đó, khi liên kết cùng nhau nuôi tôm sạch thì con tôm của hợp tác xã sẽ có cơ hội xuất khẩu tốt hơn. Hiện tại, sản lượng tôm tại hợp tác xã đều được Công ty Tài Kim Anh tại Sóc Trăng thu mua, với tôm sạch, nuôi đúng quy trình sẽ được công ty thu mua với giá tăng thêm vài nghìn đồng/kg.

Là một trong những tỉnh có diện tích tôm nước lợ lớn nhất cả nước, tuy nhiên, đa số hộ nuôi tôm ở Sóc Trăng vẫn sản xuất với quy mô nhỏ lẻ. Trong những năm qua, nghề nuôi tôm cũng gặp không ít những khó khăn từ vấn đề dịch bệnh, môi trường, giá thành sản xuất cao; giá cả đầu ra lên xuống thất thường. Đặc biệt, yếu tố đầu vào là một trong những áp lực lớn đối với người nuôi do hiện nay vẫn còn sản phẩm không kiểm soát được chất lượng, giá cả, việc sản xuất xuất nhỏ lẻ, thiếu vốn đầu tư dẫn đến tình trạng người nuôi phải lệ thuộc đại lý cung ứng vật tư.

Trước thực tế đó, thời gian qua, ngành nông nghiệp Sóc Trăng đã tích cực phối hợp với Trung tâm Hợp tác quốc tế nuôi trồng và khai thác thủy sản bền vững (ICAFIS), Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF) cũng như các đơn vị chuyên môn khác kết nối thành công giữa các Hợp tác xã hoặc Tổ hợp tác với các nhà cung ứng vật tư đầu vào cũng như đầu ra. Đến nay, tỉnh đã có 7 Hợp tác xã/Tổ hợp tác với diện tích trên 320 ha được liên kết với các nhà cung ứng đầu vào trên các sản phẩm bao gồm: thức ăn, thuốc, chế phẩm sinh học, con giống.

Quá trình sản xuất được “khơi thông”, người nuôi tôm mạnh dạn tiếp cận với các mô hình nuôi tôm cải tiến, nuôi tôm công nghệ cao, để chất lượng nguồn tôm thương phẩm được đánh giá ở mức tốt nhất. Ngoài 31 cơ sở nuôi tôm đã được cấp chứng nhận thực hành sản xuất sạch VietGAP, nhiều cơ sở khác cũng đã tiếp cận các tiêu chuẩn nuôi theo chuẩn Hội đồng quản lý nuôi trồng thủy sản (ASC), GlobalGAP,… Nhờ vậy, doanh nghiệp cũng có được nguồn nguyên liệu đầu vào đáng tin cậy phục vụ tốt cho nhu cầu chế biến, giữ vững uy tín đối với đối tác lớn cả trong và ngoài nước.

Tiến sĩ Hồ Quốc Lực, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Thực phẩm Sao Ta (Fimex) chia sẻ: “Vấn đề nuôi tôm hiện nay đã có những sự chuyển biến về chất, nhiều diện tích đã được chuyển sang nuôi theo hình thức công nghệ cao góp phần tăng sản lượng cũng như chất lượng các sản phẩm; từ đó tạo ra được những sản phẩm chế biến có chất lượng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên cả các thị trường khó tính. Có thể nói, người nuôi và nhà sản xuất được xem là 2 mắt xích quan trọng nhất trong chuỗi giá trị con tôm. Nếu 2 mắt xích quan trọng này có sự phối hợp ăn ý với nhau thì sẽ tạo ra một hiệu quả tốt. Sự liên kết này rất quan trọng trong việc nâng tầm giá trị của con tôm. Khi có sự phối hợp tốt với nhau thì thông tin về nhu cầu của thị trường, về mùa vụ, về kích cỡ và thậm chí là giá cả sẽ được người nuôi nắm đầy đủ, cụ thể; từ đó họ sẽ tổ chức thả nuôi đáp ứng đúng những yêu cầu chế biến mà doanh nghiệp cần, lợi ích cho cả người nuôi và doanh nghiệp".

Sản lượng tôm hàng năm tại tỉnh Sóc Trăng hiện đã vượt trên 180 nghìn tấn, con số này đáp ứng từ 90 đến 100% nhu cầu tôm nguyên liệu phục vụ nhu cầu chế biến, xuất khẩu của các nhà máy thu mua, chế biến tôm trên địa bàn tỉnh. Tuy vậy, để có sự liên kết chặt chẽ giữa người nuôi và doanh nghiệp nhằm thống nhất sản lượng nguồn tôm nguyên liệu theo từng thởi điểm khác nhau, rất cần có một tổ chức trung gian là Hợp tác xã/Tổ hợp tác chứ không phải là một vài hộ nuôi với những diện tích nhỏ lẻ.

Cũng từ yêu cầu này, mô hình kinh tế tập thể trong lĩnh vực nuôi tôm nước lợ bắt đầu được chú trọng hơn. Đến nay, ngành Nông nghiệp Sóc Trăng đã hình thành được chuỗi liên kết giữa nhà máy thu mua, chế biến tôm nguyên liệu với 13 Hợp tác xã/Tổ hợp tác với diện tích gần 520 ha. Ngoài ra, đã thúc đẩy ký kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm cho các công ty thu mua tại tỉnh với giá cao hơn so với thị trường đối với 4 Hợp tác nuôi tôm theo chuẩn ASC với diện tích gần 200 ha.

Có thể thấy, liên kết chuỗi từ đầu vào đến đầu ra là xu hướng tất yếu để phát triển ngành tôm Sóc Trăng tương xứng với tiềm năng, thế mạnh sẵn có. Tuy vậy, giải pháp quan trọng để duy trì và phát huy tốt chuỗi liên kết ngành hàng đối với con tôm nước lợ rất cần sự phối hợp hài hòa giữa cả người nuôi và doanh nghiệp trên tinh thần cùng chia sẻ lợi ích và rủi ro nếu có.

Theo bà Quách Thị Thanh Bình, Chi cục trưởng, Chi cục Thuỷ sản tỉnh Sóc Trăng, đối với người nuôi, phải thật sự quyết tâm tham gia các Hợp tác xã/Tổ hợp tác, phải xây dựng kế hoạch sản xuất bài bản, cụ thể, sao cho thực sự có sự liên kết, kết nối giữa các thành viên về mặt khoa học kỹ thuật để tạo ra được khối lượng hàng hoá vừa lớn, vừa chất lượng phục vụ việc thu mua, chế biến của các nhà máy. Riêng các nhà máy chế biến, ngoài chủ động xây dựng vùng nguyên liệu của chính công ty, cũng nên tăng cường các hợp đồng liên kết với các trang trại, các Hợp tác xã/Tổ hợp tác để vừa tạo được một sự phát triển hài hoà, nhịp nhàng từ khâu nuôi đến chế biến, vừa xây dựng được thương hiệu con tôm Sóc Trăng từ nguồn nguyên liệu đảm bảo tốt các điều kiện xuất khẩu.

Đi từ nhỏ lẻ, lên liên kết sản xuất, tiêu thụ, chế biến, nâng cao chuỗi giá trị giữa doanh nghiệp và các hợp tác xã/tổ hợp tác để từng bước hình thành liên kết vùng… tất cả là những giải pháp quan trọng đã và đang được ngành nông nghiệp Sóc Trăng hướng đến nhằm giúp ngành tôm của tỉnh giữ vững vị trí tốp đầu cả nước về kim ngạch xuất khẩu.

Trung Hiếu

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.