Liên kết để xây dựng và phát triển thương hiệu cho nông sản Việt Nam

Liên kết để xây dựng và phát triển thương hiệu cho nông sản Việt Nam
Song song với xây dựng các chính sách hỗ trợ, cần chọn ra sản phẩm thế mạnh cũng như tạo liên kết để xây dựng thương hiệu, qua đó tăng khả năng cạnh tranh cũng giá trị xuất khẩu cho nông sản Việt Nam. Đây là nội dung được nêu ra tại hội thảo “Bàn giải pháp – chính sách hỗ trợ thúc đẩy xây dựng và phát triển thương hiệu nông sản Việt Nam”, do Cục Chế biến nông lâm thủy sản và nghề muối (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) tổ chức tại Tp. Hồ Chí Minh ngày 24/12.
 Gặp bất lợi vì thương hiệu yếu 

Hiện ngành nông nghiệp có 10 sản phẩm nông lâm thủy sản xuất khẩu chính; trong đó có 8 sản phẩm có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD và có mặt hầu hết các thị trường nhập khẩu lớn của thế giới như Mỹ, EU và Nhật Bản. Tuy nhiên, 90% nông sản của Việt Nam vẫn xuất khẩu dưới dạng thô, kim ngạch còn thấp do giá trị xuất khẩu thấp hơn các sản phẩm cùng loại của nhiều nước khác.  

Quang cảnh hội thảo “Bàn giải pháp – chính sách hỗ trợ thúc đẩy xây dựng và phát triển thương hiệu nông sản Việt Nam” do Cục Chế biến nông lâm thủy sản và nghề muối (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) tổ chức ngày 24/12, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hội thảo nhằm đề xuất các giải pháp, chính sách xây dựng thương hiệu để nâng cao giá trị xuất khẩu và năng lực cạnh tranh cho nông sản Việt Nam.
Quang cảnh hội thảo “Bàn giải pháp – chính sách hỗ trợ thúc đẩy xây dựng và phát triển thương hiệu nông sản Việt Nam”  do Cục Chế biến nông lâm thủy sản và nghề muối (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) tổ chức ngày 24/12, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hội thảo nhằm đề xuất các giải pháp, chính sách xây dựng thương hiệu để nâng cao giá trị xuất khẩu và năng lực cạnh tranh cho nông sản Việt Nam. 


Ông Lê Văn Bảnh, Cục trưởng Cục Chế biến nông lâm thủy sản và nghề muối cho biết, dù nhiều sản phẩm đã được biết đến rộng rãi ở thị trường trong và ngoài nước và đã được bảo hộ tên gọi xuất xứ, chỉ dẫn địa lý, nhưng vẫn còn hơn 80% lượng nông sản của nước ta chưa xây dựng được thương hiệu, chưa có logo, nhãn mác. Đặc biệt, nhiều sản phẩm được bán ra thị trường thế giới thông qua các thương hiệu nước ngoài. Đây là bất lợi lớn, khiến sức cạnh tranh của các loại nông sản Việt trên thị trường còn yếu và chịu nhiều thiệt thòi. 

Dẫn chứng cụ thể, ông Lê Văn Bảnh chia sẻ, Hiệp hội Chè Việt Nam là đơn vị được Chính phủ giao chủ trì triển khai Chương trình thương hiệu Quốc gia Chè Việt Nam từ năm 2004, nhãn hiệu CheViet đã được đăng ký và bảo hộ với 73 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, do không được triển khai triệt để nên chương trình gần như bị bỏ ngỏ và sản phẩm chè hiện tại vẫn xuất khẩu chỉ ở dạng thô, chưa có tên tuổi khiến chè Việt Nam bị lẫn lộn hoặc phải mang tên của các hàng chè lớn nước ngoài. 

Dù Việt Nam đã trở thành một “cường quốc” về xuất khẩu nông sản, nhưng vấn đề đặt ra là các sản phẩm lại xuất khẩu thô – nguyên liệu, chất lượng và giá trị thấp và nhất là chưa có thương hiệu. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp đã chịu khó nghiên cứu thị trường, phát triển sản phẩm mới, áp dụng các chiến lược tiếp cận thị trường bài bản. Thay vì chỉ cung cấp các nguyên liệu thô, nhiều doanh nghiệp đã từng bước đầu tư máy móc, thiết bị hiện đại để sản xuất các mặt hàng có chất lượng cao, có hàm lượng giá trị gia tăng cao. Dù vậy, phát triển thương hiệu vẫn là một thách thức lớn. 

Bà Bùi Thị Thanh An, Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến Thương mại (Bộ Công Thương) cho rằng, hình ảnh giá rẻ - chất lượng thấp gắn với Việt Nam trong một thời gian quá dài đã ảnh hưởng rất lớn đến nỗ lực xuất khẩu của Việt Nam. Muốn thúc đẩy xuất khẩu, Việt Nam không những phải tiếp tục làm tốt hơn nữa công tác sản xuất nông nghiệp, mà còn phải cho thế giới biết tới những điều tốt đẹp về thực phẩm Việt Nam. 
 
Liên kết tạo thương hiệu mạnh 
 
Những năm gần đây, vấn đề xây dựng, phát triển và bảo vệ thương hiệu hàng nông lâm thủy sản đã được các cơ quan trung ương, các bộ ngành, địa phương và doanh nghiệp quan tâm, tiếp cận và triển khai. Một số địa phương đã hình thành vùng chuyên canh, sản xuất tập trung lớn cho các sản phẩm thế mạnh; dù vậy quy mô diện tích còn nhỏ lẻ, manh mún, sản phẩm chưa đồng nhất, chưa thật sự có được vùng chuyên canh đúng nghĩa, đồng thời yếu trong liên kết chuỗi giá trị, liên kết vùng, miền. 

Ông Lưu Đức Thanh, Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho biết, hiện nay việc đăng ký đối với nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận cũng như chỉ dẫn địa lý đã được chú trọng. Tuy nhiên, hiệu quả từ việc đăng ký này chưa lớn khi thực tế trên thị trường ít thấy các nhãn hiệu mang tính tập thể này. Chỉ một số ít (chỉ dẫn địa lý) có sức lan tỏa như nước mắm Phú Quốc, cà phê Buôn Ma Thuột, thanh long Bình Thuận... 

Theo ông Lưu Đức Thanh, nguyên nhân xuất phát từ việc quản lý chỉ dẫn địa lý không đồng bộ, thống nhất khi mỗi tỉnh có một cách quản lý khác nhau theo đặc thù địa phương. Do vậy, để bảo vệ chất lượng và danh tiếng cho đặc sản của mình, các nhà sản xuất, kinh doanh tại địa phương nên cùng tập hợp nhau lại trong một tổ chức tập thể (ví dụ như Hiệp hội) để tập trung sức mạnh, thống nhất chiến lược, kế hoạch từng bước xây dựng thương hiệu cho các đặc sản. 

Về vấn đề này, bà Bùi Thị Thanh An nhấn mạnh, những có gắng đơn lẻ của từng mặt hàng sẽ không tạo nên sức mạnh chung. Ngoài ra, việc thiếu vắng một chiến lược tổng thể về xây dựng và phát triển thương hiệu đang làm khách hàng và người tiêu dùng nước ngoài chưa nhận thức đầy đủ và đánh giá đúng mức về chất lượng, giá trị hàng hóa và năng lực cung cấp các mặt hàng nông sản, thực phẩm Việt Nam. 

Việc chưa có một chương trình tổng thể về xây dựng và phát triển thương hiệu nông sản chủ lực, làm căn cứ định hướng để địa phương, doanh nghiệp xác định mặt hàng, thị trường tập trung làm thương hiệu là một khó khăn lớn hiện nay.  

Theo ông Nguyễn Hồng Hải, Chủ tịch HĐQT Công ty Giống cây trồng Lạng Sơn, nhà nước nên mạnh dạn đưa ra chính sách hỗ trợ phát triển thương hiệu cho doanh nghiệp. Trước đây có nhiều chính sách, nhưng không biết hỗ trợ cho doanh nghiệp hay người nông dân. Thực tế, nếu phát triển thương hiệu cho doanh nghiệp thì sẽ có lợi cho người dân sản xuất.  

Trong khi đó, ông Đặng Hoàng Giang, Phó Chủ tịch – Tổng thư ký Hiệp hội Điều Việt Nam cho rằng, quan trọng nhất là nông sản nào có đầu ra tốt thì chúng ta nên tập trung xây dựng thương hiệu cho nông sản đó. Bây giờ chúng ta phải chú ý đến chất lượng hơn là số lượng. Như Bình Phước, có hơn 1.000 cơ sở chế biến hạt điều lớn nhỏ, chúng ta cần phải kiểm soát đầu mối, kiểm soát sản xuất đảm bảo chất lượng, cũng là đảm bảo thương hiệu. Nếu chúng ta cứ chú trọng sản xuất số lượng, xuất khẩu sơ chế thì rất khó xây dựng thương hiệu nông sản.  

Cùng quan điểm trên, ông Nguyễn Hồng Hải cho rằng: Nên chọn ra các sản phẩm có thế mạnh để tạo nên sản phẩm có thương hiệu quốc gia, có tính cạnh tranh quốc tế. Còn đối với địa phương, cần chọn ra thế mạnh của địa phương để phát triển và có thể cạnh tranh trong nước. Như vậy, ở mỗi địa phương sẽ có rất nhiều sản phẩm có thể cạnh tranh trong nước và quốc gia có sản phẩm cạnh tranh quốc tế. 

Xuất phát từ tình hình trên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn có kế hoạch trong năm 2017 sẽ triển khai xây dựng “Chương trình phát triển thương hiệu nông sản chủ lực đến năm 2020” nhằm xác định cụ thể các sản phẩm nông sản chủ lực định hướng xây dựng thương hiệu, xây dựng chỉ dẫn địa lý, nhãn mác.  

Theo Cục Chế biến nông lâm thủy sản và nghề muối, thời gian tới sẽ xây dựng cơ chế cụ thể; trong đó ưu tiên các chính sách tín dụng, chính sách thúc đẩy đầu tư cho nông nghiệp, đặc biệt là các mặt hàng nông sản có thế mạnh của từng địa phương và phục vụ xuất khẩu theo hướng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hợp tác xã có thể tiếp cận nhanh chóng, dễ dàng các nguồn hỗ trợ.
Tiến Lực
(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.