Liên kết phát triển chuỗi sản xuất rong biển

Liên kết phát triển chuỗi sản xuất rong biển

Việt Nam có hệ sinh thái biển đa dạng như đầm phá, bãi đá, rạn san hô… thích hợp cho nghề trồng rong biển, song đến nay vẫn chưa khai thác hết tiềm năng để có chuỗi sản xuất đạt giá trị cao.

Để nghề nuôi trồng rong biển phát triển có hiệu quả cao và bền vững theo các chuyên gia, cần có cơ sở giống chất lượng để cung ứng cho người nuôi. Bên cạnh đó, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nâng cao sản lượng, chất lượng các loại rong biển; áp dụng hệ thống chứng nhận để kiểm tra chất lượng rong nuôi trồng, đảm bảo an toàn sinh học, an toàn môi trường sinh thái.

Ngoài ra, các ngành chức năng và hệ thống ngân hàng cần áp dụng các chính sách cho vay ưu đãi, có chính sách hỗ trợ khuyến khích các hộ nuôi rong biển quy mô nhỏ liên kết thành chuỗi sản xuất bền vững.

Ông Đoàn Văn Dành, thôn Sơn Hải, xã Phước Dinh, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận canh tác khoảng 5.000 m2 rong sụn. Hàng năm với diện tích canh tác này, trong khoảng thời gian từ 5-6 tháng, gia đình ông thu được khoảng từ 35-40 tấn rong tươi. Giá bán tùy theo thị trường từ 3.500-5.500 đồng/kg mà thu nhập của gia đình ông dao động từ 100 triệu đồng trở lên.

Ông Dành là một trong những người trồng rong sụn đầu tiên tại tỉnh Ninh Thuận từ năm 1995. Với 27 năm kinh nghiệm trong nghề trồng rong sụn ông cho rằng, giống rong và đầu ra là 2 yếu tố quyết định đến sự phát triển bền vững của rong sụn.

Đối với giống, người nông dân phải thay giống hàng năm, phải đảm bảo nguồn giống chất lượng, đáp ứng yêu cầu hàm lượng dinh dưỡng cao theo các nhà máy yêu cầu. Đặc biệt, cây rong sụn chỉ sống nhờ nguồn nước biển tự nhiên, nên nguồn nước nuôi rong cũng cần phải đảm bảo yếu tố sạch, độ mặn phù hợp, mức độ gió vừa phải.

Thị trường đầu ra rong sụn trong những năm qua ở Ninh Thuận rất bấp bênh, có năm người dân được mùa thì giá chỉ còn 2.000 đồng/kg rong tươi, có năm lại lên mức rất cao. Việc này, ảnh hưởng rất lớn đến định hướng nuôi trồng bền vững của người nông dân.

“Nông dân - doanh nghiệp - nhà nước cần liên kết phát triển bền vững các khâu lại với nhau. Trước mắt, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Ninh Thuận đã hỗ trợ người dân phương pháp tự nhân giống rong sụn F1. Trong tương lai, chúng tôi mong muốn tự chủ được nguồn rong giống F0 để phát triển nghề nuôi trồng và thị trường đầu ra ổn định”, ông Dành mong muốn.

Rong nho được du nhập vào Khánh Hòa vào năm 2004 và trồng thành công ở tỉnh này với vùng trồng tiềm năng khoảng 400 ha. Hiện diện tích trồng rong nho khoảng 100 ha, năng suất từ 10-20 tấn/ha/năm, giá bán từ 8 - 10 USD/kg rong tươi.

Ông Lê Bền, Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Trí Tín (Khánh Hòa) cho hay, từ những ao đìa nuôi tôm kém hiệu quả khi chuyển sang trồng rong nho đã cho hiệu quả kinh tế rất cao. Trồng rong nho không phải lo lắng nguồn oxy trong nước hay dư lượng thức ăn trong ao đìa lớn sẽ làm chết cây, bởi trồng rong nho hoàn toàn nhờ tự nhiên, cây sinh trưởng nhờ hàm lượng vi sinh vật trong nước biển và độ mặn của muối.

Thế nên, trồng rong biển sẽ làm sạch môi trường. Tuy nhiên, hiện nay người dân trồng ồ ạt, chất lượng đầu ra của sản phẩm cũng không được tuyển chọn kĩ, nguy cơ làm mất thương hiệu rong nho “Made in VietNam” trong tương lai là cần phải cân nhắc.

“Theo tôi, cần có một cơ quan kiểm định nguồn giống, để đảm bảo chất lượng cho người trồng cũng như doanh nghiệp. Người dân Việt Nam trồng trọt theo kinh nghiệm, chưa chú trọng đến vấn đề này. Do đó, truyền thông về vấn đề này cần được đẩy mạnh hơn nữa”, ông Lê Bền khẳng định.

Nói đến chất lượng sản phẩm, ngoài giống còn phải chú trọng đến kỹ thuật nuôi trồng Theo ông Lê Bền, mỗi người dân, doanh nghiệp có sự liên kết với nhau, hướng dẫn phương pháp canh tác để cùng chia sẻ lợi nhuận. Ngoài ra, để tăng cường giá trị gia tăng của rong biển, việc kết hợp nuôi trồng, chế biến rong biển với du lịch cũng rất khả thi. Rong biển Việt Nam thông qua các chương trình du lịch sẽ được quảng bá mạnh mẽ đến người tiêu dùng trong và ngoài nước. Từ đó, giúp rong biển có chỗ đứng vững chắc trên thị trường và người nông dân có niềm tin vào việc trồng rong biển.

Ông Trần Đình Luân, Tổng Cục trưởng Tổng cục Thủy sản thông tin, việc khai thác tiềm năng mặt nước ven biển ở các tỉnh miền Trung để trồng rong biển đã giúp người dân khai thác nhỏ lẻ hiện nay chuyển sang nghề nuôi trồng bền vững, mặc khác giúp cho đời sống của họ được cải thiện. Lợi ích lớn hơn, rong biển là đối tượng nuôi trồng chỉ cần công lao động, không cần chi phí phân bón, thuốc bảo vệ thực vật sẽ góp phần thuận lợi trong việc bảo vệ, bảo tồn nguồn lợi thủy sản ven biển.

Quan trọng nhất tiềm năng ngành này trong tương lai có thể phát triển mạnh, ở các sản phẩm phục vụ cho ngành dược, thực phẩm chức năng cho con người… nên rất được người dân ven biển các tỉnh miền Trung chú trọng trồng và học hỏi kinh nghiệm. Thế nhưng, trước mắt, ngành nuôi trồng rong biển vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn ban đầu. Để thuận lợi, Tổng cục Thủy sản đã triển khai nhiều cuộc họp, dự án liên quan vấn đề này.

“Chúng tôi đang phối hợp với Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên tại Việt Nam triển khai Dự án “ Xây dựng chuỗi rong biển bền vững tại Việt Nam”. Chúng tôi kỳ vọng, thông qua dự án có thể đưa ra hướng nhập hoặc làm lại giống rong biển mới có hàm lượng gelatin lớn nhất. Từ đây, giúp người nuôi trồng rong biển nâng cao nâng lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu thị trường, mở rộng diện tích tiềm năng, kéo dài chuỗi giá trị và tiến tới nền nông nghiệp tuần hoàn”, ông Trần Đình Luân nói.

Theo Tổng cục Thủy sản, hiện diện tích tiềm năng trồng rong sụn cả nước khoảng 900 nghìn ha, tương đương sản lượng 600 - 700 nghìn tấn rong khô/năm. Trong số hơn 800 loài rong biển trên thế giới, có 90 loài có giá trị kinh tế. Riêng Việt Nam có 20 loài rong biển chứa chất agar (dùng trong chế biến thực phẩm); trong đó, có 7 loài rong biển phổ biến có giá trị kinh tế cao như: rong nho; rong câu chỉ vàng; rong câu thắt; rong câu cước; rong sụn; rong bắp sú và rong sụn gai.

Việt Nam có 40% sản phẩm rong tươi chế biến thành rong trắng làm thực phẩm và bán trên cả nước. Gần đây, rong biển ở Việt Nam được sử dụng để sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng như: snack, thực phẩm chức năng, thực phẩm phụ gia, bánh kẹo… và ngày càng có nhiều doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực chế biến rong biển thành các sản phẩm có giá trị cao hơn.

Phan Sáu

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.