Liên kết phát triển nghề nuôi trồng rong nho ở Khánh Hòa

Liên kết phát triển nghề nuôi trồng rong nho ở Khánh Hòa

Sử dụng giống rong nho, công nghệ tách nước rong nho theo tiêu chuẩn Nhật Bản, sản phẩm rong nho “made in” Khánh Hòa đã có thị trường ngày càng mở rộng. Nhờ đó, thu nhập và đời sống người trồng rong nho trong tỉnh được nâng lên.

Liên kết phát triển nghề nuôi trồng rong nho ở Khánh Hòa ảnh 1Nghề nuôi trồng rong nho tạo công ăn việc làm và cho thu nhập ổn định cho nhiêu lao động phổ thông tại địa phương. Ảnh: Thanh Vân-TTXVN

Đến thăm cơ sở chế biến, đóng gói rong nho của người được mệnh danh là “vua” rong nho ở Khánh Hòa tại xã Vĩnh Lương, thành phố Nha Trang, chúng tôi choáng ngợp bởi quy mô sản xuất ở đây. Từ khu vực nuôi, hàng chục công nhân mỗi người mỗi việc, chăm sóc, vớt rong vào sơ chế. Anh Nguyễn Quang Duy, Tổng Giám đốc Công ty D&T cho biết, khu vực này chỉ là công đoạn gần cuối cùng trong quy trình sản xuất một sản phẩm rong nho đạt tiêu chuẩn xuất khẩu các thị trường lớn như Nhật Bản, Mỹ, Đài Loan (Trung Quốc)…

Cùng với cơ sở tại đây, anh Duy còn có 30 ha trang trại trồng rong nho ở các địa phương trong tỉnh và liên kết với 70 ha trồng rong nho của nông dân của phường Ninh Hải, thị xã Ninh Hòa; thị trấn Vạn Giã, huyện Vạn Ninh (Khánh Hòa) và ở thị xã Sông Cầu (tỉnh Phú Yên), Cà Ná (huyện Thuận Nam, Ninh Thuận). Tổng diện tích nuôi đến nay gần 100 ha. Các vùng nuôi dưỡng rong nho của anh Duy đã được các chuyên gia Nhật Bản kiểm tra, công nhận là vùng cho ra sản phẩm rong nho có giá trị và chất lượng cao.

Liên kết phát triển nghề nuôi trồng rong nho ở Khánh Hòa ảnh 2Một số Công ty, doanh nghiệp vào vừa tham gia nuôi trồng, thu mua, chế biến rong nho. Ảnh: Thanh Vân-TTXVN

Kể về quá trình phát triển từ năm 2010 khi chỉ có 3 ha, anh Duy cho biết, rong nho (tên khoa học: Caulerpa lentillifera) du nhập từ Nhật Bản vào nước ta từ năm 2004. Rong nho có thể được trồng như trong môi trường tự nhiên của chúng - các vùng biển thích hợp có độ mặn từ 28 -35 phần ngàn. Rong sống ở vùng nước cạn và yên tĩnh, hoặc trong các ao đầm và cả trong lồng, trên dây treo ngoài biển. Việc trồng rong nho rất đơn giản, không phải cung cấp thức ăn cho cây, bởi rong nho hấp thu chất dinh dưỡng từ môi trường nước xuyên qua các “nhánh” và “lá” này để phát triển. Từ phần “thân, nhánh” ấy mọc ra các lá có hình tròn, đường kính khoảng 2 mm như quả nho thu nhỏ. Rong nho thường phát triển nhanh trong điều kiện nuôi theo quy trình khép kín. Một đợt nuôi kéo dài từ 20 – 30 ngày là có thể thu hoạch. Thời gian nuôi tốt nhất vào thời điểm có nắng, tránh mùa mưa vì nước biển sẽ bị loãng độ mặn.

Anh Duy chia sẻ, những năm đầu tiên chuyển từ công việc làm dược phẩm sang nuôi trồng và phát triển rong nho, anh gặp rất nhiều khó khăn. Đầu tiên là người dân chưa biết đến rong nho và cách trồng, thứ hai là thị trường chưa tiếp nhận sản phẩm, đầu ra rất khó. Đến năm 2014, một đoàn chuyên gia người Nhật Bản đã đến vùng nuôi Ninh Hải để thăm và kiểm nghiệm (theo chương trình hợp tác). Họ đánh giá rong nho tại Ninh Hải có chất lượng tốt không thua gì rong nho tại Okinawa của Nhật Bản. Vì vậy, phía Nhật Bản đề nghị xuất khẩu sang chính đất nước Nhật Bản. Thời gian sau, theo chương trình đi học hỏi kinh nghiệm của các đơn vị đối tác sản xuất rong nho, anh đã đến tận Nhật Bản để học tập kinh nghiệm và tìm hiểu quy trình, để bảo đảm tiêu chuẩn khắt khe của thị trường này.

Đến năm 2021, anh Duy đã xuất khẩu sang hai thị trường chính là Nhật Bản và Mỹ với trung bình 40 tấn rong nho/tháng, tháng cao điểm lên đến 150 tấn. Dù đã có tiếng ở nước ngoài, anh Duy rất mong sản phẩm chất lượng này được phục vụ người Việt. Thị trường nội địa thực sự bùng nổ khi ngành Du lịch phát triển mạnh vào giai đoạn 2018 - 2019. Do đó, trong chiến lược phát triển dài hạn của mình, anh Duy định hướng phát triển sản phẩm rong nho gắn liền với du lịch, nghĩa là tạo điểm tham quan, trải nghiệm thực tế cho khách du lịch trong hành trình khám phá vùng đất Khánh Hòa dừng chân cảm nhận, từ đó mua sắm các sản phẩm rong nho, định hình nên thương hiệu rong nho Khánh Hòa là sản phẩm đặc trưng của tỉnh.

Liên kết phát triển nghề nuôi trồng rong nho ở Khánh Hòa ảnh 3Rong nho thường phát triển nhanh trong điều kiện nuôi theo quy trình khép kín. Ảnh: Thanh Vân-TTXVN

Giới thiệu tiếp về quy trình nuôi trồng, chế biến rong nho mà anh gây dựng và thực hiện trong suốt 10 năm qua, anh nhấn mạnh yếu tố làm rong nho ở Khánh Hòa có thương hiệu trên thị trường là vùng nuôi, nhờ vùng nuôi có độ mặn thích hợp, rong nho phát triển tốt, trái tròn, mập. Rong nho sau khi được thu hoạch ở ao, hồ tự nhiên sẽ được đưa vào nuôi cơ học trong các hồ nuôi tại nhà xưởng để rong đạt chất lượng tốt nhất. Tại hồ nuôi, nước được sử dụng là nước biển sâu trên 5 m rồi qua hệ thống lọc lắng RO và than hoạt tính và thêm 5 công đoạn khác nhau để loại bỏ các vi khuẩn có hại và giữ lại các vi khuẩn có lợi, cuối cùng công nhân sẽ phân loại rong nho theo kích thước rồi mới đến giai đoạn tách nước, đóng gói.

Giai đoạn tách nước được áp dụng theo công nghệ Việt Nam, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu sang nước ngoài (HACCP, ISO, FDA…). Anh đã kết hợp với các giáo sư, tiến sĩ các viện nghiên cứu để cho ra quy trình sản xuất rong nho tách nước khác biệt. Một túi rong nho 100g với thành phần có 80g rong nho và chỉ 20 g nước muối, có thể bảo quản 1 năm.

Điều hay nữa ở mô hình sản xuất rong nho của anh Duy chính là liên kết chuỗi, hợp tác cùng người nông dân để cùng đầu tư, phát triển nghề trồng rong nho. Anh Duy sẵn sàng ứng chi phí, giống cùng kỹ thuật trồng và nhận đầu ra sản phẩm cho người nông dân tham gia liên kết. Anh không hạn chế diện tích liên kết cùng bà con, càng nhiều người dân tham gia càng tốt. Với anh, hỗ trợ nông dân có việc làm ổn định cùng sự phát triển bền vững của nghề trồng rong nho là niềm vui và hạnh phúc.

Anh Trần Như Hoàng, phường Ninh Hải, thị xã Ninh Hòa cho biết, tham gia trồng rong nho từ nhiều năm nay, đầu ra sản phẩm anh không hề lo lắng. Tất cả đều được anh Duy thu mua với giá rất hợp lý. 3 ha rong nho anh đầu tư khoảng 300 triệu đồng với lưới nuôi sử dụng 2 năm. Mỗi năm, anh có thể lời hơn 350 triệu đồng sau khi trừ chi phí. Mức thu nhập này không cao bằng nuôi ốc hương, tôm thẻ, tôm hùm nhưng ổn định đầu ra do không phụ thuộc vào thị trường nước ngoài như các loại thủy sản khác.

Ông Lê Bền, Phó Chủ tịch Hiệp hội nuôi biển Việt Nam, là người đầu tiên đưa giống rong nho về Việt Nam năm 2004 và triển khai thí điểm đầu tiên tại phường Ninh Hải (thị xã Ninh Hòa, Khánh Hòa). Ông cho biết, hiện nay, gần 10 tỉnh ven biển đã thí điểm và phát triển giống thủy sinh này như Khánh Hòa, Bình Thuận, Ninh Thuận, Vũng Tàu, Kiên Giang, Phú Yên, Bình Định, mới đây là Quảng Ninh cũng đã tiếp cận.

Ông đánh giá đây là ngành nghề nuôi biển có triển vọng, mang lại giá trị kinh tế, cần được phát triển đúng hướng theo kiểu nâng cao chất lượng, Tuy nhiên, việc phát triển nghề trồng rong nho cần chú ý cách làm, chú trọng hiệu quả sản phẩm. Người trồng rong nho nên thực hiện theo quy trình kỹ thuật của một số hộ, đơn vị đã trồng thành công để sản phẩm phát triển bền vững, lợi nhuận lâu dài tránh tình trạng rong nho trồng xong kém chất lượng, thiếu đầu ra làm sản phẩm này bị rớt giá, ảnh hưởng đến nghề nuôi rong nho về sau này.

Phan Sáu

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.