Mô hình tôm – lúa thuận thiên nông dân thu lợi nhuận đáng kể

Tỉnh Hậu Giang xác định phát triển nông nghiệp theo chuỗi giá trị thích ứng với biến đổi khí. Theo đó, tỉnh tiếp tục đầu tư hợp lý hạ tầng thủy lợi phù hợp với mô hình chuyển đổi sản xuất nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu tại các tiểu vùng sinh thái. Nhiều nông dân của tỉnh đang chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp thuần túy, chủ yếu là sản xuất lúa sang tư duy phát triển kinh tế nông nghiệp đa dạng, đáp ứng nhu cầu của thị trường, chuyển từ phát triển theo số lượng sang chất lượng. Trên địa bàn tỉnh bắt đầu có nhiều mô hình thuận thiên, thích ứng biến đổi khí hậu, góp phần xây dựng nông thôn mới bền vững.

vna_potal_con_tom_thuan_thien_o_luong_nghia_hau_giang_7519133.jpg
Vụ tôm nuôi năm 2024 này tất cả hộ dân vùng ngoài đê bao của xã đều đạt năng suất cao, do nồng độ mặn ổn định trong khoảng từ 7 phần nghìn đến dưới 16 phần nghìn. Ảnh: Duy Khương - TTXVN

Sau nhiều lần chia tách, sáp nhập thì xã Lương Nghĩa vẫn là một địa bàn vùng sâu, phèn mặn, “xương xẩu” thuộc huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Khu vực ấp 6 của xã là vùng sản xuất nông nghiệp khó khăn nhất vì nằm cặp sông cái Ngan Dừa. Nay khu vực này lại nằm ngoài đê bao ngăn mặn Long Mỹ - Vị Thanh nên mùa khô thì nhiễm nước mặn, mùa mưa thì ngập, phèn.

Khó khăn bao đời, đến nay người dân nơi đây bắt đầu vươn lên với những mô hình sản xuất nông nghiệp thuận thiên. Cụ thể, người dân được chính quyền địa phương, ngành nông nghiệp tỉnh Hậu Giang và một số đơn vị hỗ trợ, hướng dẫn nuôi tôm với trồng lúa dựa vào thiên nhiên, hạn chế sử dụng phân thuốc hóa học. Từ mô hình một tôm – một lúa thuận thiên đã nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống nhiều hộ dân, hướng đến xã đạt chuẩn nông thôn mới trong năm nay.

Anh Trần Văn Thịnh ở ấp 6, xã Lương Nghĩa, huyện Long Mỹ, năm nay 27 tuổi cho biết: Ba ao nuôi tôm quảng canh có diện tích 70.000 m2, có hệ thống cống lấy nước, thoát nước thông với sông cái Ngan Dừa. Vụ lúa Đông Xuân 2024 vừa xong thì anh thực hiện cải tạo ao nuôi tôm. Việc vệ sinh gốc rạ, cải tạo ao được anh thực hiện thủ công và thuận theo con nước.

Đó là thu hoạch lúa xong thì anh thu gom rơm rạ sạch ruộng. Rồi anh cho nước mặn vào ngâm cho rã gốc rạ. Sau đó anh rút nước ra phơi khô khoảng thời gian. Rồi anh bơm nước mặn khoảng từ 7 phần nghìn đến 8 phần nghìn vào lại, đồng thời rải vôi bột. Tiếp theo là đo nồng độ mặn, độ PH trong ao nếu đạt là thả tôm giống vào bắt đầu nuôi. Tôm nuôi từ 3 đến 4 tháng hoàn toàn bằng thức ăn tự nhiên trong ao. Đó là là tảo được tạo dưới ao và không cần ăn thức ăn công nghiệp nào.

“Cái quan trọng là phải trông trời, trông mây để canh nước ao nuôi. Vì trời nắng quá, nước ao tôm màu vàng trà, tức là PH trong ao đang giảm cần phải thêm vôi bột vô; hoặc mây mưa nhiều, nước ao nuôi màu xanh cũng phải thêm vôi bột vô ao để ổn định nước” – anh Thịnh nói việc nuôi tôm thuận thiên của mình.

Sau vụ nuôi thuận thiên đầu tiên, tôm sú của anh Thịnh đạt năng suất từ 300 - 400kg/ha. Với giá bán trung bình 170.000 đồng/kg, anh thu được từ 50 - 70 triệu đồng/ha. Do nuôi trong môi trường tự nhiên, thức ăn của tôm chủ yếu là tảo, không dùng bất cứ thức ăn công nghiệp nào, nên trừ chi phí khoảng 15 triệu đồng/ha, anh Thịnh thu được lợi nhuận đáng kể.

vna_potal_con_tom_thuan_thien_o_luong_nghia_hau_giang_7519135.jpg
Những con tôm nuôi thuận thiên đạt chất lượng ở ấp 6, xã Lương Nghĩa (huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang). Ảnh: Duy Khương - TTXVN

“Vùng đất nằm ngoài đê bao ngăn mặn Long Mỹ - Vị Thanh của xã Lương Nghĩa, đã có khoảng 100ha sản xuất một vụ lúa – một vụ tôm nhiều năm qua. Hầu hết vụ tôm đều sản xuất thuận theo tự nhiên. Cụ thể, những tháng bị xâm nhập mặn, người dân sẽ căn nồng độ mặn mà thả tôm nuôi. Như vụ tôm nuôi năm 2024 này tất cả hộ dân vùng ngoài đê bao của xã đều đạt năng suất cao, do nồng độ mặn ổn định trong khoảng từ 7 phần nghìn đến dưới 16 phần nghìn. Sắp tới, địa phương tiếp tục phối hợp ngành nông nghiệp, các đơn vị để mở rộng tuyên truyền bà con xây dựng các mô hình làm ăn có hiệu quả tại vùng ngoài đê bao. Từ đó, người dân sản xuất nông nghiệp thích ứng hiệu quả biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn hằng năm ở địa phương, xây dựng xã nông thôn mới” - Phó Chủ tịch UBND xã Lương Nghĩa, Nguyễn Văn Ngọc cho biết.

Xong vụ nuôi tôm thuận thiên, việc sản xuất lúa nơi đây, người dân cũng lại “trông trời, trông mây”. Đó là sau vụ tôm, người dân sẽ chờ mưa xuống cho độ mặn trong ao nuôi tôm được rửa sạch là bơm nước ra và sạ lúa. Nhờ các chất phân thải còn lại của vụ tôm mà cây lúa đủ chất phát triển, nên việc bón phân thuốc hóa học cho vụ lúa được hạn chế đáng kể.

Mô hình tôm – lúa thuận thiên đang được kỳ vọng góp phần cho xã Lương Nghĩa đạt chuẩn nông thôn mới trong năm 2024 theo kế hoạch đề ra. Vì mô hình sẽ giải quyết được một số tiêu chí mà xã chưa đạt như thu nhập, tỉ lệ hộ nghèo, tổ chức sản xuất và phát triển kinh tế nông thôn... Cụ thể, như tại khu vực nuôi tôm ngoài đê bao ở ấp 6 này có 60 hộ dân, khi chưa nuôi tôm thì có đến phân nữa là hộ nghèo. Từ năm 2016 đến nay, khi chuyển đổi mô hình tôm – lúa đã giảm nghèo được 24 hộ, đến nay chỉ còn 6 hộ nghèo.

Giám đốc Hợp tác xã nông nghiệp Nông Gia (thị trấn Kinh Cùng, huyện Phụng Hiệp) Nguyễn Văn Thẳng cho biết, nhận thấy được tiềm năng và lợi thế của nông nghiệp địa phương, hợp tác xã thực hiện mô hình sản xuất nông nghiệp tuần hoàn để sản xuất nông nghiệp theo cơ chế tuần hoàn. Từ đó giảm chi phí đầu tư, tăng chất lượng nông phẩm, tăng hiệu quả kinh tế, góp phần bảo vệ môi trường, định hướng nền nông nghiệp theo chuẩn sinh thái, thích ứng biến đổi khí hậu.

Cụ thể, hợp tác xã triển khai sản xuất trên diện 7ha thành 2 khu trồng cây ăn trái, nấm bào ngư, rau mầm các loại, lúa, nuôi dê và mặt nước nuôi vịt xiêm, nuôi cá, nuôi bò, lợn rừng, giun quế... Với mô hình chăn nuôi, trồng trọt tuần hoàn đã tận dụng thức ăn, phân bón kết hợp hiệu quả, hạn chế sử dụng phân thuốc hóa học.

“Đồng thời, hợp tác xã đẩy mạnh khâu chế biến các sản phẩm từ ngành trồng trọt và chăn nuôi nhằm tăng giá trị sản phẩm và có thể bảo quản lâu hơn, giúp đa dạng hóa sản phẩm. Mục tiêu các sản phẩm chủ lực của hợp tác xã sẽ trở thành sản phẩm OCOP đạt chuẩn từ 4 sao trở lên, góp phần cùng địa phương xây dựng nông thôn mới hiệu quả”, Giám đốc Nguyễn Văn Thẳng nói.

Theo ông Huỳnh Thành Hữu, Chánh Văn phòng Điều phối các chương trình mục tiêu Quốc gia tỉnh Hậu Giang, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới thời gian qua trên địa bàn tỉnh có sự phối hợp thường xuyên, nhịp nhàng của các thành viên kiêm nhiệm từ các sở, ngành tỉnh với Văn phòng Điều phối các chương trình mục tiêu quốc gia tỉnh, đã giúp cung cấp nhiều thông tin, tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho địa phương trong thực hiện.

vna_potal_con_tom_thuan_thien_o_luong_nghia_hau_giang_7519136.jpg
Niềm vui trúng vụ tôm nuôi thuận thiên ở ấp 6, xã Lương Nghĩa (huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang). Ảnh: Duy Khương - TTXVN

Thời gian tới, tỉnh đẩy mạnh tuyên truyền về Chương trình tại địa phương để nhận thức đầy đủ hơn về chương trình mục tiêu quốc gia, đặc biệt là chương trình xây dựng nông thôn mới. Từ đó giúp nâng cao trách nhiệm, sự tâm huyết của cán bộ, nhân dân trong thực hiện. Nhất là tuyên truyền, nâng cao nhận thức, chuyển đổi tư duy cho các tổ chức kinh tế khu vực nông thôn, chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang liên kết sản xuất, sản xuất thích ứng biến đổi khí hậu, góp phần xây dựng nông thôn mới hiệu quả.

Đến nay, tỉnh Hậu Giang có 3 đơn vị cấp huyện được công nhận hoàn thành/đạt chuẩn nông thôn mới, 11 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, 41/51 xã đạt chuẩn (19/19 tiêu chí) nông thôn mới đạt 80,39% (5 xã nông thôn mới kiểu mẫu). Số tiêu chí đạt bình quân toàn tỉnh là 18,2 tiêu chí/xã, số xã đạt tiêu chí môi trường và an toàn thực phẩm là 44/51 xã, đạt 86,27%. Tỉnh phấn đấu đến cuối năm 2024 có 42/51 xã đạt chuẩn xã nông thôn mới, đạt 82,35% và đến năm 2025, số xã nông thôn mới đạt 70%, xã nông thôn mới nâng cao 20% và xã nông thôn mới kiểu mẫu 10%.

Sông Hậu

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.