Diện mạo mới vùng đồng bào Khmer Cần Thơ

Với quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị trong triển khai các chương trình, dự án giảm nghèo, TP Cần Thơ đã đưa tỷ lệ hộ nghèo toàn thành phố xuống còn gần 0,6%, trong đó công tác giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số đạt nhiều kết quả tích cực. Những chính sách hỗ trợ thiết thực đang từng bước cải thiện đời sống người dân, làm thay đổi diện mạo vùng đồng bào Khmer, đồng thời củng cố niềm tin của đồng bào đối với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

giamngheocantho17720266.jpg
Vẻ đẹp nguy nga, lộng lẫy của Chùa Som Rong, phường Sóc Trăng (Cần Thơ).

Những mô hình sinh kế hiệu quả

TP Cần Thơ có hơn 540.000 người Khmer sinh sống, chiếm hơn 14% dân số, sinh sống tại 38 xã, phường; trong đó có 8 xã thuộc khu vực I, 11 xã khu vực II và 19 xã thuộc khu vực III. Thành phố có 406 ấp, khu vực được xác định thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số; trong số này có 164 ấp, khu vực thuộc diện đặc biệt khó khăn.

giamngheocantho17720262.jpg
Nhiều đồng bào Khmer tại phường Mỹ Xuyên (Cần Thơ) vươn lên thoát nghèo nhờ cần cù lao động và được tạo điều kiện hỗ trợ vốn phát triển nông nghiệp.

Khu vực Đại Nghĩa Thắng (phường Mỹ Xuyên) hiện có 983 hộ dân, trong đó đồng bào Khmer chiếm hơn 90%. Từng là địa phương đối mặt với nhiều khó khăn, nhờ sự tiếp sức của các chính sách dân tộc, đời sống bà con nới đây đã hết khó khăn, hiện chỉ còn 15 hộ nghèo và 9 hộ cận nghèo.

Việc tiếp sức thông qua nguồn vốn tín dụng và chuyển giao kỹ thuật đã tạo bước đột phá trong sản xuất. Hộ gia đình của ông Diệp Phước Nghĩa là một minh chứng cho thấy hiệu quả của việc kết hợp giữa chính sách hỗ trợ vốn vay và tinh thần lao động cần cù.

Trước đây, gia đình ông Nghĩa thuộc diện hộ nghèo, thiếu vốn sản xuất, diện tích canh tác rất hạn chế, thu nhập bấp bênh, không đủ trang trải cuộc sống, cả nhà phải sinh sống trong căn nhà lá xuống cấp.

giamngheocantho17720261.jpg
Những rẫy hoa màu xanh tốt mang lại nguồn thu nhập khá, giúp ông Diệp Phước Nghĩa không chỉ thoát nghèo mà còn vươn lên làm giàu.

Hành trình thoát nghèo của gia đình ông bắt đầu từ khi được tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi. Ban đầu, ông được hỗ trợ vay 30 triệu đồng, sau đó tiếp tục được vay thêm 20 triệu đồng để mở rộng sản xuất. Với tổng nguồn vốn 50 triệu đồng, ông Nghĩa đã mạnh dạn đầu tư canh tác trên diện tích hơn 4 công đất, thực hiện mô hình trồng 4 vụ màu mỗi năm, với các loại cây như hành, hẹ, rau thơm. Nhờ cần cù, chịu khó, học hỏi để áp dụng kỹ thuật, mô hình này đã mang lại lợi nhuận hơn 50 triệu đồng mỗi năm sau khi trừ chi phí cho gia đình ông.

Song song với trồng màu, cách đây 3 năm, gia đình ông còn được hỗ trợ đối ứng một con bò giống. Đến nay, đã phát triển lên hai con, tạo thêm nguồn sinh kế bền vững cho gia đình.

Nhờ nỗ lực lao động sản xuất, năm 2024, gia đình ông Nghĩa đã được thoát nghèo. Từ nguồn vốn tích lũy, ông cũng đã xây dựng được căn nhà khang trang trị giá 500 triệu đồng và nuôi dạy các con ăn học đến nơi đến chốn.

Tại xã Trần Đề, từ các mô hình hỗ trợ sinh kế thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhiều hộ Khmer đã có điều kiện phát triển sản xuất, từng bước ổn định cuộc sống. Đến nay, toàn xã chỉ còn 53 hộ nghèo và 206 hộ cận nghèo.

giamngheocantho17720264.jpg
Cán bộ địa phương tham quan mô hình nuôi bò giống tại hộ gia đình bà Thạch Thị Quang ở xã Trần Đề.

Gia đình bà Thạch Thị Quang (78 tuổi, ngụ ấp Lâm Dồ) là một trong những hộ có sự chuyển biến rõ nét nhờ hỗ trợ sinh kế kịp thời. Bà Quang kể: “Trước kia, tôi không có đất sản xuất, sống cùng vợ chồng người con, nguồn thu nhập chủ yếu dựa vào công việc làm thuê, thu nhập không ổn định, thiếu trước hụt sau, gia đình từng nuôi bò với mong muốn cải thiện kinh tế, nhưng quy mô nhỏ, hiệu quả chưa cao”.

Nhận thấy gia đình có sẵn chuồng trại và kinh nghiệm chăn nuôi, chính quyền địa phương đã đưa hộ bà Quang vào diện hỗ trợ từ mô hình nuôi bò sinh sản. Từ hai con bò giống ban đầu, gia đình đã nhân đàn và bán được nhiều lứa bò, có thêm nguồn thu để trang trải cuộc sống. Chỉ vài tháng trước, gia đình bà bán 4 con bò, thu về hàng chục triệu đồng. Hiện đàn bò còn 6 bò cái đang mang thai và 2 bò tơ, hứa hẹn tiếp tục mang lại nguồn thu ổn định trong thời gian tới.

Bà Quang phấn khởi chia sẻ: “Được Nhà nước hỗ trợ bò giống, tôi rất mừng vì có điều kiện phát triển chăn nuôi. Các con đi làm thuê về vẫn cố gắng dành thời gian chăm sóc đàn bò, tranh thủ cắt cỏ mỗi ngày. Gia đình luôn động viên nhau cố gắng làm ăn để cuộc sống ngày càng ổn định, khá giả hơn”.

Lấy người dân làm chủ thể của quá trình phát triển

Theo đại diện Sở Dân tộc và Tôn giáo TP Cần Thơ, 6 tháng đầu năm 2026, công tác chỉ đạo và triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) đang được thực hiện đồng bộ và quyết liệt.

giamngheocantho17720265.jpg
Trường THCS Tôn Đức Thắng, phường Sóc Trăng (Cần Thơ) khang trang, rộng rãi đáp ứng nhu cầu học tập của con em đồng bào Khmer.

Theo đó, Sở đã phối hợp với Sở Tài chính và các đơn vị có liên quan rà soát tổng hợp, triển khai nguồn vốn từ các năm trước (2022 - 2025) được phép kéo dài sang năm 2026 với tổng kinh phí gần 208,6 tỉ đồng. Dự kiến, nguồn vốn này sẽ giải ngân đạt 100% kế hoạch vào cuối năm 2026.

Trong giai đoạn I (2026 - 2030) của Hợp phần thứ hai thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035, TP Cần Thơ dự kiến bố trí 246,5 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước để triển khai. Trong đó, ngân sách trung ương hỗ trợ khoảng 106,8 tỷ đồng, ngân sách địa phương đối ứng hơn 139,7 tỷ đồng. Riêng năm 2026, tổng nguồn vốn thực hiện dự kiến đạt 73,3 tỷ đồng.

giamngheocantho17720267.jpg
Chính quyền Cần Thơ luôn quan tâm, hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bi đáp ứng nhu cầu học tập của con em đồng bào Khmer trên địa bàn.

Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025, các địa phương trên địa bàn Cần Thơ được bố trí nguồn lực đáng kể để đầu tư hạ tầng, hỗ trợ sinh kế và giảm nghèo. Địa bàn Sóc Trăng và Hậu Giang trước đây được phân bổ hơn 1.520 tỉ đồng thực hiện Chương trình; TP Cần Thơ (cũ) cũng chủ động lồng ghép hơn 64 tỉ đồng từ ngân sách địa phương để hỗ trợ phát triển sản xuất cho đồng bào Khmer.

Theo đại diện Thành ủy TP Cần Thơ, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị. Thành phố xác định lấy người dân làm chủ thể của quá trình phát triển, tập trung hỗ trợ về kỹ thuật, nguồn lực và tạo điều kiện để người dân chủ động phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập.

Cùng với đó, TP Cần Thơ định hướng xây dựng nông thôn mới theo hướng hiện đại, giữ gìn bản sắc văn hóa và thích ứng với biến đổi khí hậu; phát triển kinh tế nông thôn theo mô hình xanh, tuần hoàn, sinh thái; từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số với các khu vực khác.

giamngheocantho17720263.jpg
Trạm Y tế xã Lai Hòa được đầu tư xây mới khang trang, đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu bà con phum sóc.

Bên cạnh các giải pháp phát triển kinh tế, TP Cần Thơ tiếp tục bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; triển khai đồng bộ chính sách hỗ trợ sinh kế bền vững, đa dạng hóa mô hình sản xuất phù hợp với từng địa phương, ưu tiên vùng khó khăn và khu vực có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.

Thành phố cũng đẩy mạnh đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường lao động, thực hiện hiệu quả chính sách tín dụng ưu đãi, an sinh xã hội và các giải pháp phòng ngừa tái nghèo.

Đồng thời, ưu tiên đầu tư hạ tầng thiết yếu, cải thiện điều kiện sống của người dân thông qua các chính sách hỗ trợ về đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt, sinh kế, giáo dục, y tế và vệ sinh môi trường.

Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Ngược núi hỗ trợ dịch vụ công cho đồng bào Cor

Ngược núi hỗ trợ dịch vụ công cho đồng bào Cor

Từng phải vượt hàng chục km đường núi để giải quyết một thủ tục hành chính, người dân ở nhiều thôn vùng cao Quảng Ngãi nay chỉ cần đến điểm hỗ trợ ngay tại địa phương để được hướng dẫn, tiếp nhận và xử lý hồ sơ.

Triển khai nhiều chính sách giáo dục đặc thù, mang niềm vui đến vùng biên giới, hải đảo

Triển khai nhiều chính sách giáo dục đặc thù, mang niềm vui đến vùng biên giới, hải đảo

Những quyết sách nhân văn vượt trội về hỗ trợ sữa uống tại trường, miễn phí sách giáo khoa, tiền ăn trưa bán trú và xe đưa đón đang mang lại niềm vui đến các lớp học biên giới, hải đảo của tỉnh Quảng Ninh. Hệ thống chính sách đặc thù này vừa được phản ánh toàn diện tại Báo cáo số 315/BC-UBND do UBND tỉnh Quảng Ninh chính thức gửi Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Đắk Lắk tham vấn lộ trình phát triển kinh tế số

Đắk Lắk tham vấn lộ trình phát triển kinh tế số

Chiều 16/7, UBND tỉnh Đắk Lắk tổ chức Hội thảo trao đổi, tham vấn đối với dự thảo Đề án "Phát triển kinh tế số tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2045", nhằm tiếp tục hoàn thiện trước khi trình cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt.

Hơn 2.184 tỷ đồng vốn ưu đãi đồng hành cùng phụ nữ phát triển kinh tế

Hơn 2.184 tỷ đồng vốn ưu đãi đồng hành cùng phụ nữ phát triển kinh tế

Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh tạo điều kiện hỗ trợ hội viên phụ nữ tiếp cận nguồn vốn ưu đãi đúng đối tượng giúp nhiều hội viên từng bước thoát nghèo, làm giàu chính đáng, nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển kinh tế bền vững…

Đi tìm những dòng tên còn thiếu trên bia mộ liệt sĩ

Đi tìm những dòng tên còn thiếu trên bia mộ liệt sĩ

Có những người lính đã yên nghỉ nơi đất mẹ nhưng hơn 70 năm qua vẫn chưa thể trở về với chính tên tuổi của mình. Trên những hàng bia trắng ở các nghĩa trang liệt sĩ tỉnh Điện Biên vẫn còn hàng nghìn phần mộ chỉ khắc dòng chữ "Liệt sĩ chưa xác định danh tính".

Định hình diện mạo một vùng đất biên giới hiện đại, văn minh

Định hình diện mạo một vùng đất biên giới hiện đại, văn minh

Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng, quá trình đô thị hóa, phát triển công nghiệp và dịch vụ tại Tây Ninh cũng diễn ra khá mạnh mẽ. Với mục tiêu nâng cao chất lượng đời sống nhân dân và thúc đẩy phát triển bền vững, tỉnh Tây Ninh xác định việc chỉnh trang cảnh quan, bảo vệ môi trường là nhiệm vụ trọng tâm, từng bước định hình diện mạo một vùng đất biên giới hiện đại, văn minh.

Đưa tiện ích số đến với người bệnh

Đưa tiện ích số đến với người bệnh

Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về "đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia", ngành Y tế tỉnh Điện Biên đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý, khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Chú trọng chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khỏe nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Chú trọng chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khỏe nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Chiều 13/7, đoàn công tác do ông Lâm Văn Mẫn, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội làm trưởng đoàn đã đến khảo sát và làm việc tại tỉnh Cà Mau về tình hình thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù về giáo dục, y tế đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn.

Khảo sát chính sách giáo dục, y tế đặc thù đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Khảo sát chính sách giáo dục, y tế đặc thù đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Sáng 13/7, đoàn công tác do đồng chí Lâm Văn Mẫn, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội làm trưởng đoàn đã đến khảo sát việc triển khai một số cơ chế, chính sách đặc thù về giáo dục và y tế đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Khánh Lâm (tỉnh Cà Mau). Hoạt động nhằm đánh giá thực tiễn việc đưa các nghị quyết lớn của Quốc hội đi vào cuộc sống tại địa bàn vùng sâu, vùng xa.

Người dân vùng núi, biên giới đã từng bước thành thạo các kỹ năng số

Người dân vùng núi, biên giới đã từng bước thành thạo các kỹ năng số

Chuyển đổi số giờ đây đang hiện diện rõ nét ở nhiều vùng miền núi biên giới, nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh Lạng Sơn sinh sống. Người dân dần hình thành thói quen sử dụng công nghệ số trong cuộc sống. Đằng sau những thay đổi ấy là sự vào cuộc đồng bộ của chính quyền cơ sở để đưa kỹ năng số trở thành một phần của đời sống người dân.

'Gia đình số' lan tỏa tri thức số giữa đại ngàn

'Gia đình số' lan tỏa tri thức số giữa đại ngàn

Các xã miền núi còn nhiều khó khăn của tỉnh Quảng Ngãi, nơi việc tiếp cận công nghệ số vẫn là thách thức đối với nhiều người dân, phong trào “Bình dân học vụ số”, đang mở ra những thay đổi tích cực.

Chăm sóc sức khỏe đồng bào vùng cao

Chăm sóc sức khỏe đồng bào vùng cao

Ngày 11/7, Câu lạc bộ Thầy thuốc xứ Thanh tại Hà Nội đã phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Thanh Hóa, Sở Y tế Thanh Hóa tổ chức chương trình “Ấm tình quê hương” nhằm khám bệnh, tư vấn sức khỏe, cấp phát thuốc miễn phí cho người dân, tặng trang thiết bị y tế cho Trạm Y tế xã miền núi Trung Lý.

Trao trên 200 triệu đồng quà tặng gia đình chính sách tại xã biên giới Thanh Thủy

Trao trên 200 triệu đồng quà tặng gia đình chính sách tại xã biên giới Thanh Thủy

Hướng tới kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), sáng 11/7, tại xã Thanh Thủy (Tuyên Quang), Cục Hải quan (Bộ Tài chính) phối hợp với UBND xã Thanh Thủy tổ chức Chương trình "Hướng về cội nguồn", trao tặng quà cho các gia đình chính sách, người có công với cách mạng trên địa bàn.

Cải thiện điều kiện học tập cho trẻ em vùng biên Sơn La

Cải thiện điều kiện học tập cho trẻ em vùng biên Sơn La

Ngày 11/7, tại điểm Trường Mầm non bản Tràng Nặm, Trường Mầm non Hoa Ban, xã Yên Sơn (tỉnh Sơn La), Đồn Biên phòng Chiềng On (Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Sơn La) phối hợp với nhóm Green Gables cùng các đơn vị đồng hành tổ chức khánh thành, bàn giao và đưa vào sử dụng công trình "Trường học yêu thương - Nâng bước em tới trường" và công trình "Thắp sáng vùng biên".

Kết nối nguồn lực đồng hành cùng thanh thiếu nhi vùng biên giới

Kết nối nguồn lực đồng hành cùng thanh thiếu nhi vùng biên giới

Ngày 10/7, tại xã Kim Điền (tỉnh Quảng Trị), Ban Thường vụ Tỉnh đoàn Quảng Trị và Ban Thường vụ Tỉnh đoàn Phú Thọ tổ chức Lễ ký kết Chương trình phối hợp triển khai Đề án “Tuổi trẻ Việt Nam đồng hành với thanh thiếu nhi vùng biên giới giai đoạn 2025 - 2030”.

Quyết định số 1252/QĐ-TTg: Phát triển một số đại học lớn ở miền Trung và Tây Nguyên

Quyết định số 1252/QĐ-TTg: Phát triển một số đại học lớn ở miền Trung và Tây Nguyên

Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu vừa ký Quyết định số 1252/QĐ-TTg ngày 10/7/2026 phê duyệt Đề án đầu tư cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng hoạt động một số cơ sở giáo dục đại học lớn ở khu vực miền Trung và Tây Nguyên thành những trung tâm đào tạo uy tín trong khu vực và thế giới (Đề án).

Đẩy nhanh đầu tư trường nội trú, hoàn thiện chính sách đất đai vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Đẩy nhanh đầu tư trường nội trú, hoàn thiện chính sách đất đai vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Chiều 10/7, tại xã Tây Trà, Đoàn công tác Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Khóa XVI do đồng chí Hoàng Duy Chinh, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Dân tộc làm Trưởng đoàn đã làm việc với Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi về tình hình thực hiện chính sách pháp luật đất đai, y tế, giáo dục đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Đảm bảo an ninh chủ động trong tình hình mới

Đảm bảo an ninh chủ động trong tình hình mới

Gia Lai là địa bàn có vị trí chiến lược, có đường biên giới tiếp giáp Campuchia và đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Do đó, công tác bảo đảm an ninh quốc gia tiếp tục đặt ra nhiều thách thức.

Tạo nguồn cán bộ người dân tộc thiểu số đáp ứng yêu cầu mới

Tạo nguồn cán bộ người dân tộc thiểu số đáp ứng yêu cầu mới

Trước yêu cầu phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong giai đoạn mới, tỉnh Cà Mau đang triển khai nhiều giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số có trình độ, năng lực, từng bước nâng cao tỷ lệ cán bộ giữ vị trí lãnh đạo, quản lý.

Huy động tối đa lực lượng tăng tốc xây dựng trường nội trú vùng biên

Huy động tối đa lực lượng tăng tốc xây dựng trường nội trú vùng biên

Những ngày này, tại các công trường xây dựng Trường Phổ thông Dân tộc nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở ở các xã Buôn Đôn, Ia Lốp và Ia R’vê (tỉnh Đắk Lắk), không khí thi công diễn ra khẩn trương. Hàng trăm công nhân, kỹ sư cùng nhiều máy móc, thiết bị được huy động tối đa, làm việc liên tục để hoàn thành các công trình đúng tiến độ, kịp đưa vào sử dụng trước lễ khai giảng năm học 2026-2027.