Với quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị trong triển khai các chương trình, dự án giảm nghèo, TP Cần Thơ đã đưa tỷ lệ hộ nghèo toàn thành phố xuống còn gần 0,6%, trong đó công tác giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số đạt nhiều kết quả tích cực. Những chính sách hỗ trợ thiết thực đang từng bước cải thiện đời sống người dân, làm thay đổi diện mạo vùng đồng bào Khmer, đồng thời củng cố niềm tin của đồng bào đối với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Những mô hình sinh kế hiệu quả
TP Cần Thơ có hơn 540.000 người Khmer sinh sống, chiếm hơn 14% dân số, sinh sống tại 38 xã, phường; trong đó có 8 xã thuộc khu vực I, 11 xã khu vực II và 19 xã thuộc khu vực III. Thành phố có 406 ấp, khu vực được xác định thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số; trong số này có 164 ấp, khu vực thuộc diện đặc biệt khó khăn.
Khu vực Đại Nghĩa Thắng (phường Mỹ Xuyên) hiện có 983 hộ dân, trong đó đồng bào Khmer chiếm hơn 90%. Từng là địa phương đối mặt với nhiều khó khăn, nhờ sự tiếp sức của các chính sách dân tộc, đời sống bà con nới đây đã hết khó khăn, hiện chỉ còn 15 hộ nghèo và 9 hộ cận nghèo.
Việc tiếp sức thông qua nguồn vốn tín dụng và chuyển giao kỹ thuật đã tạo bước đột phá trong sản xuất. Hộ gia đình của ông Diệp Phước Nghĩa là một minh chứng cho thấy hiệu quả của việc kết hợp giữa chính sách hỗ trợ vốn vay và tinh thần lao động cần cù.
Trước đây, gia đình ông Nghĩa thuộc diện hộ nghèo, thiếu vốn sản xuất, diện tích canh tác rất hạn chế, thu nhập bấp bênh, không đủ trang trải cuộc sống, cả nhà phải sinh sống trong căn nhà lá xuống cấp.
Hành trình thoát nghèo của gia đình ông bắt đầu từ khi được tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi. Ban đầu, ông được hỗ trợ vay 30 triệu đồng, sau đó tiếp tục được vay thêm 20 triệu đồng để mở rộng sản xuất. Với tổng nguồn vốn 50 triệu đồng, ông Nghĩa đã mạnh dạn đầu tư canh tác trên diện tích hơn 4 công đất, thực hiện mô hình trồng 4 vụ màu mỗi năm, với các loại cây như hành, hẹ, rau thơm. Nhờ cần cù, chịu khó, học hỏi để áp dụng kỹ thuật, mô hình này đã mang lại lợi nhuận hơn 50 triệu đồng mỗi năm sau khi trừ chi phí cho gia đình ông.
Song song với trồng màu, cách đây 3 năm, gia đình ông còn được hỗ trợ đối ứng một con bò giống. Đến nay, đã phát triển lên hai con, tạo thêm nguồn sinh kế bền vững cho gia đình.
Nhờ nỗ lực lao động sản xuất, năm 2024, gia đình ông Nghĩa đã được thoát nghèo. Từ nguồn vốn tích lũy, ông cũng đã xây dựng được căn nhà khang trang trị giá 500 triệu đồng và nuôi dạy các con ăn học đến nơi đến chốn.
Tại xã Trần Đề, từ các mô hình hỗ trợ sinh kế thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhiều hộ Khmer đã có điều kiện phát triển sản xuất, từng bước ổn định cuộc sống. Đến nay, toàn xã chỉ còn 53 hộ nghèo và 206 hộ cận nghèo.
Gia đình bà Thạch Thị Quang (78 tuổi, ngụ ấp Lâm Dồ) là một trong những hộ có sự chuyển biến rõ nét nhờ hỗ trợ sinh kế kịp thời. Bà Quang kể: “Trước kia, tôi không có đất sản xuất, sống cùng vợ chồng người con, nguồn thu nhập chủ yếu dựa vào công việc làm thuê, thu nhập không ổn định, thiếu trước hụt sau, gia đình từng nuôi bò với mong muốn cải thiện kinh tế, nhưng quy mô nhỏ, hiệu quả chưa cao”.
Nhận thấy gia đình có sẵn chuồng trại và kinh nghiệm chăn nuôi, chính quyền địa phương đã đưa hộ bà Quang vào diện hỗ trợ từ mô hình nuôi bò sinh sản. Từ hai con bò giống ban đầu, gia đình đã nhân đàn và bán được nhiều lứa bò, có thêm nguồn thu để trang trải cuộc sống. Chỉ vài tháng trước, gia đình bà bán 4 con bò, thu về hàng chục triệu đồng. Hiện đàn bò còn 6 bò cái đang mang thai và 2 bò tơ, hứa hẹn tiếp tục mang lại nguồn thu ổn định trong thời gian tới.
Bà Quang phấn khởi chia sẻ: “Được Nhà nước hỗ trợ bò giống, tôi rất mừng vì có điều kiện phát triển chăn nuôi. Các con đi làm thuê về vẫn cố gắng dành thời gian chăm sóc đàn bò, tranh thủ cắt cỏ mỗi ngày. Gia đình luôn động viên nhau cố gắng làm ăn để cuộc sống ngày càng ổn định, khá giả hơn”.
Lấy người dân làm chủ thể của quá trình phát triển
Theo đại diện Sở Dân tộc và Tôn giáo TP Cần Thơ, 6 tháng đầu năm 2026, công tác chỉ đạo và triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) đang được thực hiện đồng bộ và quyết liệt.
Theo đó, Sở đã phối hợp với Sở Tài chính và các đơn vị có liên quan rà soát tổng hợp, triển khai nguồn vốn từ các năm trước (2022 - 2025) được phép kéo dài sang năm 2026 với tổng kinh phí gần 208,6 tỉ đồng. Dự kiến, nguồn vốn này sẽ giải ngân đạt 100% kế hoạch vào cuối năm 2026.
Trong giai đoạn I (2026 - 2030) của Hợp phần thứ hai thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035, TP Cần Thơ dự kiến bố trí 246,5 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước để triển khai. Trong đó, ngân sách trung ương hỗ trợ khoảng 106,8 tỷ đồng, ngân sách địa phương đối ứng hơn 139,7 tỷ đồng. Riêng năm 2026, tổng nguồn vốn thực hiện dự kiến đạt 73,3 tỷ đồng.
Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025, các địa phương trên địa bàn Cần Thơ được bố trí nguồn lực đáng kể để đầu tư hạ tầng, hỗ trợ sinh kế và giảm nghèo. Địa bàn Sóc Trăng và Hậu Giang trước đây được phân bổ hơn 1.520 tỉ đồng thực hiện Chương trình; TP Cần Thơ (cũ) cũng chủ động lồng ghép hơn 64 tỉ đồng từ ngân sách địa phương để hỗ trợ phát triển sản xuất cho đồng bào Khmer.
Theo đại diện Thành ủy TP Cần Thơ, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị. Thành phố xác định lấy người dân làm chủ thể của quá trình phát triển, tập trung hỗ trợ về kỹ thuật, nguồn lực và tạo điều kiện để người dân chủ động phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập.
Cùng với đó, TP Cần Thơ định hướng xây dựng nông thôn mới theo hướng hiện đại, giữ gìn bản sắc văn hóa và thích ứng với biến đổi khí hậu; phát triển kinh tế nông thôn theo mô hình xanh, tuần hoàn, sinh thái; từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số với các khu vực khác.
Bên cạnh các giải pháp phát triển kinh tế, TP Cần Thơ tiếp tục bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; triển khai đồng bộ chính sách hỗ trợ sinh kế bền vững, đa dạng hóa mô hình sản xuất phù hợp với từng địa phương, ưu tiên vùng khó khăn và khu vực có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.
Thành phố cũng đẩy mạnh đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường lao động, thực hiện hiệu quả chính sách tín dụng ưu đãi, an sinh xã hội và các giải pháp phòng ngừa tái nghèo.
Đồng thời, ưu tiên đầu tư hạ tầng thiết yếu, cải thiện điều kiện sống của người dân thông qua các chính sách hỗ trợ về đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt, sinh kế, giáo dục, y tế và vệ sinh môi trường.
Tên tự gọi: Người Khmer.
Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.
Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.
Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.
Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.
Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.
Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.
Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.
Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).
Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.
Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Theo cema.gov.vn