Diện mạo mới vùng đồng bào Khmer Cần Thơ

Với quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị trong triển khai các chương trình, dự án giảm nghèo, TP Cần Thơ đã đưa tỷ lệ hộ nghèo toàn thành phố xuống còn gần 0,6%, trong đó công tác giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số đạt nhiều kết quả tích cực. Những chính sách hỗ trợ thiết thực đang từng bước cải thiện đời sống người dân, làm thay đổi diện mạo vùng đồng bào Khmer, đồng thời củng cố niềm tin của đồng bào đối với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

giamngheocantho17720266.jpg
Vẻ đẹp nguy nga, lộng lẫy của Chùa Som Rong, phường Sóc Trăng (Cần Thơ).

Những mô hình sinh kế hiệu quả

TP Cần Thơ có hơn 540.000 người Khmer sinh sống, chiếm hơn 14% dân số, sinh sống tại 38 xã, phường; trong đó có 8 xã thuộc khu vực I, 11 xã khu vực II và 19 xã thuộc khu vực III. Thành phố có 406 ấp, khu vực được xác định thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số; trong số này có 164 ấp, khu vực thuộc diện đặc biệt khó khăn.

giamngheocantho17720262.jpg
Nhiều đồng bào Khmer tại phường Mỹ Xuyên (Cần Thơ) vươn lên thoát nghèo nhờ cần cù lao động và được tạo điều kiện hỗ trợ vốn phát triển nông nghiệp.

Khu vực Đại Nghĩa Thắng (phường Mỹ Xuyên) hiện có 983 hộ dân, trong đó đồng bào Khmer chiếm hơn 90%. Từng là địa phương đối mặt với nhiều khó khăn, nhờ sự tiếp sức của các chính sách dân tộc, đời sống bà con nới đây đã hết khó khăn, hiện chỉ còn 15 hộ nghèo và 9 hộ cận nghèo.

Việc tiếp sức thông qua nguồn vốn tín dụng và chuyển giao kỹ thuật đã tạo bước đột phá trong sản xuất. Hộ gia đình của ông Diệp Phước Nghĩa là một minh chứng cho thấy hiệu quả của việc kết hợp giữa chính sách hỗ trợ vốn vay và tinh thần lao động cần cù.

Trước đây, gia đình ông Nghĩa thuộc diện hộ nghèo, thiếu vốn sản xuất, diện tích canh tác rất hạn chế, thu nhập bấp bênh, không đủ trang trải cuộc sống, cả nhà phải sinh sống trong căn nhà lá xuống cấp.

giamngheocantho17720261.jpg
Những rẫy hoa màu xanh tốt mang lại nguồn thu nhập khá, giúp ông Diệp Phước Nghĩa không chỉ thoát nghèo mà còn vươn lên làm giàu.

Hành trình thoát nghèo của gia đình ông bắt đầu từ khi được tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi. Ban đầu, ông được hỗ trợ vay 30 triệu đồng, sau đó tiếp tục được vay thêm 20 triệu đồng để mở rộng sản xuất. Với tổng nguồn vốn 50 triệu đồng, ông Nghĩa đã mạnh dạn đầu tư canh tác trên diện tích hơn 4 công đất, thực hiện mô hình trồng 4 vụ màu mỗi năm, với các loại cây như hành, hẹ, rau thơm. Nhờ cần cù, chịu khó, học hỏi để áp dụng kỹ thuật, mô hình này đã mang lại lợi nhuận hơn 50 triệu đồng mỗi năm sau khi trừ chi phí cho gia đình ông.

Song song với trồng màu, cách đây 3 năm, gia đình ông còn được hỗ trợ đối ứng một con bò giống. Đến nay, đã phát triển lên hai con, tạo thêm nguồn sinh kế bền vững cho gia đình.

Nhờ nỗ lực lao động sản xuất, năm 2024, gia đình ông Nghĩa đã được thoát nghèo. Từ nguồn vốn tích lũy, ông cũng đã xây dựng được căn nhà khang trang trị giá 500 triệu đồng và nuôi dạy các con ăn học đến nơi đến chốn.

Tại xã Trần Đề, từ các mô hình hỗ trợ sinh kế thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhiều hộ Khmer đã có điều kiện phát triển sản xuất, từng bước ổn định cuộc sống. Đến nay, toàn xã chỉ còn 53 hộ nghèo và 206 hộ cận nghèo.

giamngheocantho17720264.jpg
Cán bộ địa phương tham quan mô hình nuôi bò giống tại hộ gia đình bà Thạch Thị Quang ở xã Trần Đề.

Gia đình bà Thạch Thị Quang (78 tuổi, ngụ ấp Lâm Dồ) là một trong những hộ có sự chuyển biến rõ nét nhờ hỗ trợ sinh kế kịp thời. Bà Quang kể: “Trước kia, tôi không có đất sản xuất, sống cùng vợ chồng người con, nguồn thu nhập chủ yếu dựa vào công việc làm thuê, thu nhập không ổn định, thiếu trước hụt sau, gia đình từng nuôi bò với mong muốn cải thiện kinh tế, nhưng quy mô nhỏ, hiệu quả chưa cao”.

Nhận thấy gia đình có sẵn chuồng trại và kinh nghiệm chăn nuôi, chính quyền địa phương đã đưa hộ bà Quang vào diện hỗ trợ từ mô hình nuôi bò sinh sản. Từ hai con bò giống ban đầu, gia đình đã nhân đàn và bán được nhiều lứa bò, có thêm nguồn thu để trang trải cuộc sống. Chỉ vài tháng trước, gia đình bà bán 4 con bò, thu về hàng chục triệu đồng. Hiện đàn bò còn 6 bò cái đang mang thai và 2 bò tơ, hứa hẹn tiếp tục mang lại nguồn thu ổn định trong thời gian tới.

Bà Quang phấn khởi chia sẻ: “Được Nhà nước hỗ trợ bò giống, tôi rất mừng vì có điều kiện phát triển chăn nuôi. Các con đi làm thuê về vẫn cố gắng dành thời gian chăm sóc đàn bò, tranh thủ cắt cỏ mỗi ngày. Gia đình luôn động viên nhau cố gắng làm ăn để cuộc sống ngày càng ổn định, khá giả hơn”.

Lấy người dân làm chủ thể của quá trình phát triển

Theo đại diện Sở Dân tộc và Tôn giáo TP Cần Thơ, 6 tháng đầu năm 2026, công tác chỉ đạo và triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) đang được thực hiện đồng bộ và quyết liệt.

giamngheocantho17720265.jpg
Trường THCS Tôn Đức Thắng, phường Sóc Trăng (Cần Thơ) khang trang, rộng rãi đáp ứng nhu cầu học tập của con em đồng bào Khmer.

Theo đó, Sở đã phối hợp với Sở Tài chính và các đơn vị có liên quan rà soát tổng hợp, triển khai nguồn vốn từ các năm trước (2022 - 2025) được phép kéo dài sang năm 2026 với tổng kinh phí gần 208,6 tỉ đồng. Dự kiến, nguồn vốn này sẽ giải ngân đạt 100% kế hoạch vào cuối năm 2026.

Trong giai đoạn I (2026 - 2030) của Hợp phần thứ hai thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035, TP Cần Thơ dự kiến bố trí 246,5 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước để triển khai. Trong đó, ngân sách trung ương hỗ trợ khoảng 106,8 tỷ đồng, ngân sách địa phương đối ứng hơn 139,7 tỷ đồng. Riêng năm 2026, tổng nguồn vốn thực hiện dự kiến đạt 73,3 tỷ đồng.

giamngheocantho17720267.jpg
Chính quyền Cần Thơ luôn quan tâm, hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bi đáp ứng nhu cầu học tập của con em đồng bào Khmer trên địa bàn.

Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025, các địa phương trên địa bàn Cần Thơ được bố trí nguồn lực đáng kể để đầu tư hạ tầng, hỗ trợ sinh kế và giảm nghèo. Địa bàn Sóc Trăng và Hậu Giang trước đây được phân bổ hơn 1.520 tỉ đồng thực hiện Chương trình; TP Cần Thơ (cũ) cũng chủ động lồng ghép hơn 64 tỉ đồng từ ngân sách địa phương để hỗ trợ phát triển sản xuất cho đồng bào Khmer.

Theo đại diện Thành ủy TP Cần Thơ, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị. Thành phố xác định lấy người dân làm chủ thể của quá trình phát triển, tập trung hỗ trợ về kỹ thuật, nguồn lực và tạo điều kiện để người dân chủ động phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập.

Cùng với đó, TP Cần Thơ định hướng xây dựng nông thôn mới theo hướng hiện đại, giữ gìn bản sắc văn hóa và thích ứng với biến đổi khí hậu; phát triển kinh tế nông thôn theo mô hình xanh, tuần hoàn, sinh thái; từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số với các khu vực khác.

giamngheocantho17720263.jpg
Trạm Y tế xã Lai Hòa được đầu tư xây mới khang trang, đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu bà con phum sóc.

Bên cạnh các giải pháp phát triển kinh tế, TP Cần Thơ tiếp tục bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; triển khai đồng bộ chính sách hỗ trợ sinh kế bền vững, đa dạng hóa mô hình sản xuất phù hợp với từng địa phương, ưu tiên vùng khó khăn và khu vực có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.

Thành phố cũng đẩy mạnh đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường lao động, thực hiện hiệu quả chính sách tín dụng ưu đãi, an sinh xã hội và các giải pháp phòng ngừa tái nghèo.

Đồng thời, ưu tiên đầu tư hạ tầng thiết yếu, cải thiện điều kiện sống của người dân thông qua các chính sách hỗ trợ về đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt, sinh kế, giáo dục, y tế và vệ sinh môi trường.

Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Tết Độc lập nơi đảo tiền tiêu của Tổ quốc

Tết Độc lập nơi đảo tiền tiêu của Tổ quốc

Nhân 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Hòn Khoai cùng các lực lượng đứng chân trên đảo đã tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, tạo không khí vui tươi, đoàn kết, góp phần giáo dục truyền thống, nâng cao ý thức trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia trên biển.

Hợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài cuối: Hợp tác bén rễ trên những vườn cây

Hợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài cuối: Hợp tác bén rễ trên những vườn cây

Không có đường biên trực tiếp với Lào, nhưng Đắk Lắk đang triển khai các thỏa thuận hợp tác với Champasak, Attapeu, Salavan và Sekong. Từ đề nghị của Attapeu về chuyên gia và kỹ thuật sầu riêng, một hướng hợp tác mới đang hiện rõ: kết nối vùng nguyên liệu bằng tri thức, hợp tác xã và cơ chế theo dõi đến cùng.

Hợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài 1: Từ đường biên đến hành lang phát triển

Hợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài 1: Từ đường biên đến hành lang phát triển

Cùng hướng tới một không gian hợp tác rộng hơn với tỉnh Mondulkiri của Vương quốc Campuchia và các tỉnh Nam Lào, hai tỉnh Lâm Đồng và Đắk Lắk đang đứng trước yêu cầu chuyển những bản ghi nhớ cấp tỉnh thành dòng hàng, vùng nguyên liệu, chương trình chuyển giao kỹ thuật và sinh kế cụ thể ở khu vực biên giới. Giá trị của hợp tác vì thế không chỉ được đo bằng số cuộc gặp, mà bằng khả năng mở đường cho từng nhu cầu từ cơ sở đi đến đúng nơi giải quyết.

Đưa đặc sản từ bản làng vào ‘giỏ hàng’ thường xuyên của người tiêu dùng

Đưa đặc sản từ bản làng vào ‘giỏ hàng’ thường xuyên của người tiêu dùng

Theo ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương), sản phẩm của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã từng bước hiện diện rõ hơn trên thị trường, nhưng để đứng vững và tạo giá trị gia tăng tương xứng, cần chuyển từ tư duy đưa sản phẩm đi giới thiệu sang xây dựng năng lực để sản phẩm cạnh tranh, tiêu thụ lâu dài.

Nhiều chính sách đột phá vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Cần Thơ

Nhiều chính sách đột phá vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Cần Thơ

Trong hành trình phát triển của đất nước, Đảng bộ, chính quyền thành phố Cần Thơ đã thực hiện hàng loạt chương trình, chính sách cụ thể, tạo chuyển biến tích cực trong cộng đồng người dân tộc thiểu số (DTTS). Nhân dịp kỷ niệm 81 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc phỏng vấn ông Lâm Hoàng Mẫu, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo thành phố Cần Thơ để làm rõ hơn về vấn đề này.

Từ giá trị văn hóa đến sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số

Từ giá trị văn hóa đến sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số

Trao đổi với phóng viên, ông Nguyễn Đình Tứ, Phó Giám đốc, Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Phú Thọ cho biết, để văn hóa thực sự trở thành động lực phát triển, Phú Thọ xác định phải đồng bộ nhiều giải pháp từ đầu tư hạ tầng, lựa chọn sản phẩm đặc trưng, tăng liên kết đến kết nối doanh nghiệp, logistics và du lịch…

Lai Châu thiếu không gian sinh hoạt chung sau sáp nhập thôn, bản

Lai Châu thiếu không gian sinh hoạt chung sau sáp nhập thôn, bản

Sau sáp nhập thôn, bản, quy mô dân cư tăng lên nhưng nhiều nhà văn hóa không còn đáp ứng nhu cầu hội họp, sinh hoạt cộng đồng. Tại xã Than Uyên, tỉnh Lai Châu, tình trạng thừa nhà văn hóa nhưng thiếu không gian sinh hoạt chung đang đặt ra yêu cầu có giải pháp phù hợp với thực tế sau sáp nhập.

Cây sâm bén rễ, tình quân dân thêm gắn bó nơi biên cương

Cây sâm bén rễ, tình quân dân thêm gắn bó nơi biên cương

Phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng, an ninh đang được các địa phương khu vực biên giới Lai Châu triển khai bằng nhiều cách làm thiết thực, phù hợp điều kiện thực tế. Trong đó, việc đưa cây Sâm Lai Châu - loại dược liệu quý có giá trị kinh tế cao vào trồng tại khu vực biên giới đang mở ra hướng sinh kế mới cho đồng bào các dân tộc thiểu số.

Đưa giá trị văn hóa thành nguồn lực phát triển kinh tế và nâng cao đời sống đồng bào

Đưa giá trị văn hóa thành nguồn lực phát triển kinh tế và nâng cao đời sống đồng bào

Theo bà Nguyễn Thị Hồng Huệ, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách, Bộ Dân tộc và Tôn giáo, những giá trị văn hóa, nghề truyền thống, tri thức bản địa và sản vật đặc hữu của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nếu được nhận diện đúng, tổ chức phù hợp và kết nối với thị trường sẽ trở thành nguồn lực nội sinh, tạo ra sản phẩm, thương hiệu, dịch vụ có giá trị gia tăng, việc làm và sinh kế bền vững cho cộng đồng.

Sơn La huy động lực lượng, tăng tốc làm sạch dữ liệu đất đai trước 30/10

Sơn La huy động lực lượng, tăng tốc làm sạch dữ liệu đất đai trước 30/10

Ngày 28/8, Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La tổ chức Hội nghị sơ kết thực hiện Kế hoạch số 2959/KH-BNNMT-BCA của liên Bộ Nông nghiệp và Môi trường - Bộ Công an về tăng cường đẩy mạnh công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính và hoàn thành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai.

Mở tương lai tươi sáng cho trẻ em vùng biên

Mở tương lai tươi sáng cho trẻ em vùng biên

Chỉ còn ít ngày nữa, năm học 2026 - 2027 sẽ chính thức bắt đầu. Cùng với niềm vui tựu trường của học sinh trên cả nước, tại các xã biên giới, những ngôi trường phổ thông nội trú liên cấp đang gấp rút hoàn thiện những công việc cuối cùng để sẵn sàng đón học sinh.

Công bố các quyết định về bộ máy và cán bộ tại Lai Châu

Công bố các quyết định về bộ máy và cán bộ tại Lai Châu

Sáng 28/8, Ban Thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Lai Châu tổ chức Hội nghị công bố các quyết định về công tác tổ chức bộ máy và cán bộ. Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Lai Châu Lê Minh Ngân dự, phát biểu chỉ đạo tại hội nghị.

Sắp xếp, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị

Sắp xếp, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị

Tối 27/8, Tỉnh ủy Sơn La tổ chức Hội nghị công bố các Quyết định về việc thành lập 2 đảng bộ; đổi tên Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy thành Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy và công bố các Quyết định của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về công tác cán bộ.

Xã vùng cao biên giới Thu Lũm sẵn sàng hành trình 'Gieo con chữ'

Xã vùng cao biên giới Thu Lũm sẵn sàng hành trình 'Gieo con chữ'

Là xã biên giới xa nhất của tỉnh Lai Châu, địa hình chia cắt, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, Thu Lũm luôn đứng trước không ít thách thức trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. Song, bằng sự chủ động và quyết tâm, cấp ủy, chính quyền cùng các nhà trường đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, từ sắp xếp tổ chức bộ máy, chuẩn bị cơ sở vật chất, rà soát, huy động học sinh đến tranh thủ các nguồn lực hỗ trợ.

Đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các trường nội trú liên cấp biên giới

Đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các trường nội trú liên cấp biên giới

Chiều 26/8, UBND tỉnh Sơn La tổ chức Phiên họp thứ năm để xem xét, thảo luận tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026; đồng thời, cho ý kiến đối với một số nội dung thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh.

Hiệu quả mô hình tự quản vùng biên Môn Sơn, Nghệ An

Hiệu quả mô hình tự quản vùng biên Môn Sơn, Nghệ An

Với hơn 4000 hộ dân và 36,5km đường biên giới tiếp giáp nước bạn Lào; địa hình chia cắt, đời sống còn nhiều khó khăn, xã vùng biên Môn Sơn (Nghệ An) từng đối mặt với không ít thách thức trong công tác quản lý địa bàn và bảo đảm an ninh trật tự. Tuy nhiên, bằng việc phát huy sức mạnh 'thế trận lòng dân' thông qua các mô hình tự quản sáng tạo, Môn Sơn không chỉ giữ vững sự bình yên hôm nay, mà còn tạo nền tảng vững chắc để vùng biên viễn phát triển.

Linh hoạt sắp xếp trường lớp, tạo thuận lợi cho người học, người dạy

Linh hoạt sắp xếp trường lớp, tạo thuận lợi cho người học, người dạy

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, các địa phương ở tỉnh Đắk Lắk đang chủ động chuẩn bị các điều kiện để mô hình mới hoạt động ổn định. Yêu cầu được đặt ra là tinh gọn đầu mối nhưng không làm gián đoạn việc dạy và học, nhất là tại những địa bàn vùng xa.

Đắk Lắk xem xét trách nhiệm các địa phương chậm giải quyết hồ sơ đất đai

Đắk Lắk xem xét trách nhiệm các địa phương chậm giải quyết hồ sơ đất đai

Liên quan đến vấn đề tồn đọng hồ sơ đất đai tại Đắk Lắk mà phóng viên TTXVN đã phản ánh, ngày 24/8, UBND tỉnh Đắk Lắk ban hành văn bản 13291//UBND-PVHCC về việc xử lý dứt điểm hồ sơ thủ tục hành chính lĩnh vực đất đai còn tồn đọng. Đây là vấn đề đã được UBND tỉnh nhiều lần chỉ đạo nhưng vẫn chưa được xử lý dứt điểm.

Điện Biên: Khởi công Tổ hợp giáo dục liên thông đa cấp học gần 650 tỷ đồng

Điện Biên: Khởi công Tổ hợp giáo dục liên thông đa cấp học gần 650 tỷ đồng

Sáng 25/8, tại phường Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên, Tổ hợp Giáo dục FPT Điện Biên được khởi công với tổng vốn đầu tư gần 650 tỷ đồng. Dự án được xây dựng theo mô hình giáo dục liên thông, đa cấp học, từ phổ thông đến giáo dục nghề nghiệp và đại học, hướng tới đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho Điện Biên và khu vực Tây Bắc.

Tuyên Quang: Người dân tự giác giao nộp 263 súng tự chế, 283 viên đạn

Tuyên Quang: Người dân tự giác giao nộp 263 súng tự chế, 283 viên đạn

Thực hiện đợt cao điểm tuyên truyền, vận động nhân dân tự nguyện giao nộp vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ và pháo, lực lượng Công an tỉnh Tuyên Quang đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, hướng mạnh về cơ sở. Qua đó, người dân đã tự giác giao nộp 263 súng tự chế, 283 viên đạn, 29 kíp nổ cùng nhiều loại vũ khí, công cụ hỗ trợ khác, góp phần phòng ngừa nguy cơ mất an ninh, trật tự ngay từ địa bàn dân cư.

Trường lớp khang trang, sẵn sàng đón học sinh vào năm học mới

Trường lớp khang trang, sẵn sàng đón học sinh vào năm học mới

Trước thềm năm học mới 2026 - 2027, tỉnh Quảng Trị đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất trường, lớp, chuẩn bị các điều kiện cần thiết phục vụ giảng dạy và học tập. Nhiều công trình đang được đẩy nhanh tiến độ, từng bước tạo diện mạo trường lớp khang trang, an toàn, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và sẵn sàng đón học sinh trở lại trường.