Nghề đan lát mang lại giá trị truyền thống lẫn kinh tế cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Kon Tum

Đối với bà con dân tộc thiểu số tại tỉnh Kon Tum, đan lát được xem là một nét đẹp văn hóa từ bao đời, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nhằm bảo tồn và phát triển nghề truyền thống này, cộng đồng dân tộc thiểu số luôn tích cực truyền dạy lại cho thế hệ trẻ; đồng thời, đưa sản phẩm đan lát thành hàng hóa để phát triển kinh tế, tăng cao thu nhập.

ảnh 1.jpg
Già Luk (69 tuổi, phường Thắng Lợi, thành phố Kon Tum) miệt mài đan lát để tạo ra các sản phẩm chất lượng đến tay người tiêu dùng.

Từ nhỏ, già Luk (69 tuổi, phường Thắng Lợi, thành phố Kon Tum) đã biết đến nghề đan lát qua người cha của mình. Hình ảnh thế hệ đi trước là các bậc cha, ông ngồi đan lát trước hiên nhà là nét đẹp văn hóa luôn hiện hữu trong trí nhớ già Luk mỗi khi nhắc lại. Trải qua quá trình quan sát, “ngọn lửa” đam mê đan lát già Luk đã được nhen nhóm và trở thành sở thích đặc biệt của ông so với bạn bè cùng trang lứa.

Già Luk bắt tập quá trình tập đan lát của mình bằng những món đồ đơn giản như con chim, chuồn chuồn để chơi hoặc tặng cho bạn bè. Lúc rảnh rỗi, ông còn phụ cha mình và các già làng làm công việc chuốt nan, chẻ sợi. Ông xem những việc này là cơ hội quý báu để trau dồi khả năng đan lát của bản thân và có thêm kinh nghiệm trong việc lựa chọn ra những nguyên liệu chất lượng để sản phẩm làm ra đạt tốt nhất.

Già Luk chia sẻ: Khoảng thời gian đầu được tiếp cận về đan lát, ông luôn chú ý theo dõi từng cử chỉ, hành động của người lớn để học làm theo. Với năng khiếu của mình, chỉ sau thời gian ngắn, ông đã có thể thành thạo các kỹ thuật về đan lát. Những chỗ không biết, ông sẽ hỏi cha, ông chỉ dạy để hoàn thiện bản thân. Nhờ đó, từng sợi mây, sợi tre qua bàn tay khéo léo của ông được uốn cong, tạo hình ra những sản phẩm với độ chính xác, tỉ mỉ cao.

ảnh 3.jpg
Những sản phẩm đan lát được người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Kon Tum bán với giá giao động từ 30.000 - 200.000 đồng tùy từng sản phẩm.

Đa phần người Bahnar khác tại thôn Kon Tum Kơ Pơng rất thành thạo về nghề truyền thống là đan lát bằng mây, tre. Riêng cạnh nhà già Luk đã có đến gần 10 người hàng xóm thành thạo đan lát. Không chỉ đàn ông, trong số này còn có những người phụ nữ đan lát rất đẹp. Đối với người Bahnar, các vật dụng từ đan lát luôn hiện diện trong đời sống của mỗi người dân bởi những vật dụng đời thường như gùi lúa, nia, đơm cá… Hình ảnh thế hệ đi trước là các bậc cha, ông ngồi đan lát trước hiên nhà là nét đẹp văn hóa luôn hiện hữu trong trí nhớ của mỗi người.

Ngoài nhu cầu phục vụ hằng ngày, người Bahnar còn dùng vật dụng đan lát để trao đổi, buôn bán với các làng khác. Đơn cử như việc không cần dùng tiền mặt, người Bahnar có thể mua một con gà, một kí nếp hoặc thịt bò bằng việc đổi chiếc gùi, cái nia của mình.

Đến nay, dù nghề đan lát mây tre không còn thịnh hành như xưa nhưng vẫn còn nhiều người dân tộc thiểu số vẫn xem đây như một nghề giúp họ có thêm thu nhập để trang trải cuộc sống. Đơn cử như vài năm trước, nhu cầu về các sản phẩm đan lát còn cao, người Bahnar tại thôn Kon Tum Kơ Pơng đã nhận đặt hàng với số lượng lớn và chung tay cùng nhau đan lát để tăng thu nhập.

Già Luk chia sẻ, khi được thương lái đặt hàng, bà con trong thôn đều tập trung lại và đan lát. Mỗi người một việc thể hiện sự gắn bó của cả cộng đồng với ngành nghề truyền thống này. Trung bình mỗi ngày, một người thành thạo có thể đan được hơn 10 sản phẩm. Với giá bán từ 30-60 nghìn đồng/cái tùy kích cỡ, việc làm này không những tạo ra thu nhập mà còn giúp người dân có thêm động lực trong việc bảo tồn nghề truyền thống.

ảnh 2.jpg
Rất nhiều người dân tộc thiểu số tại tỉnh Kon Tum xem nghề đan lát như một nguồn thu nhập bền vững để trang trải cuộc sống.

Cạnh đó, người Rơ Ngao (một nhánh của dân tộc Bahnar) sinh sống tại làng Kon Trang Long Loi (huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum) xem nghề đan lát như một nguồn thu nhập bền vững. Để có thể đan được một sản phẩm, người Rơ Ngao phải mất 3 ngày để vào rừng tìm kiếm các vật dụng như lồ ô, nứa, cây gạo, dây mây. Sau đó, họ phải mất thêm 2 ngày để trau chuốt các vật dụng và đan hoàn chỉnh sản phẩm.

Người Rơ Ngao chủ yếu dựa vào đan cái nia, đơm cá để kiếm thêm thu nhập. Với mức giá dao động từ 70.000 – 200.000 đồng tùy từng sản phẩm, những người dân tộc thiểu số biết đan lát tại làng Kon Trang Long Loi có thể kiếm được khoảng 2 triệu đồng/tháng từ việc bán sản phẩm. Nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp của ngành nghề truyền thống, người dân Rơ Ngao thường truyền dạy lại cho thế hệ trẻ cách đan lát và chú trọng phát triển các sản phẩm để phục vụ du lịch.

Với việc hình thành Làng du lịch cộng đồng Kon Trang Long Loi vào đầu năm 2021, sản phẩm đan lát của người dân tộc thiểu số nơi đây dần dễ dàng đến được tay các du khách. Đây là điểm tựa vững chắc để người Rơ Ngao có nguồn thu nhập bền vững từ nghề đan lát; đồng thời, thúc đẩy thế hệ trẻ tiếp tục bảo tồn và giữ vững ngành nghề truyền thống.

Có thể nói, phần lớn người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Kon Tum đã dần thay đổi tư duy về ngành nghề truyền thống, biến những sản phẩm làm ra thành hàng hóa. Từ đó, có thêm nguồn thu nhập bền vững bên cạnh việc sản xuất nông nghiệp. Việc làm này giúp những ngành nghề truyền thống nói chung và đan lát nói riêng dần trở lại với đời sống văn hóa các dân tộc, tạo ra bước đệm để bảo tồn và tiếp tục phát triển hơn về sau./.

Khoa Chương

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.