Người Ê Đê quan niệm rằng chim Grứ là biểu hiện cho sức mạnh dồi dào, chỉ có chim Grứ mới có thể bay cao nhất trong các loài chim. Nên động tác múa chim Grứ hoàn toàn mô phỏng theo cánh chim đang bay lượn. Ngoài ra, Chim Grứ còn thể hiện quan niệm tâm linh của người Ê Đê: những người đã qua đời chỉ là chết về thể xác, còn linh hồn của họ vẫn quanh quẩn đâu đó. Có lúc thì vô hình, có khi lại hiện hữu, thông qua hình dạng những con vật như đại bàng, con bướm hay con nhện mà sau bảy lần biến hình, sẽ lại được đầu thai trở lại làm người… Tuy nhiên, hình ảnh con chim đại bàng được người Ê Đê tin là linh thiêng nhất, nên chim Grứ thể hiện mối quan hệ giao thoa giữa người sống với linh hồn những người đã chết.
Chim Grứ được coi như là phương tiện đưa linh hồn người chết về thế giới của tổ tiên. Đồng thời cũng là hình ảnh thể hiện linh hồn của ông bà tổ tiên đến thăm con cháu trong những ngày có lễ hội và bảo vệ những người đang sống. Vì thế, khi múa người ta đưa tay lên uốn lượn để người xem tưởng tượng ra như cái đầu, hoặc đôi cánh của chim đại bàng đang bay lượn trên bầu trời. Điệu múa cũng như mời gọi các vị thần linh, các linh hồn của người đã khuất, về tham gia lễ hội cùng với buôn làng, với gia đình.
Múa chim Grứ có hai hình thức thể hiện cơ bản: Một là chỉ dùng tay biểu diễn, sử dụng sự uyển chuyển của cổ tay, đưa đẩy, chuyển động cả cánh tay tùy tình huống, ý nghĩa của việc lễ hội. Tùy theo lễ hội mà người biểu diễn múa đưa tay lên bao nhiêu lần. Chẳng hạn, trong lễ cúng cột nêu (mđi Gơng Drai), nếu cúng ba cột nêu, thì những người múa làm động tác xoè tay sát dọc theo hai bên thân hình đưa lên đưa xuống ba lần, giống như con đại bàng ba lần vỗ cánh trước khi bay. Nếu cũng 5 ché, phải đưa lên xuống 5 lần. Hai là tay giơ cao quá đầu,chân nhón lên bước nhẹ nhàng lướt qua trước ghế Kpan (lễ cúng rước kpan) và sau ché rượu (trong lễ cúng chúc phúc).
Động tác múa là sự kết hợp giữa đôi tay và đôi chân để luôn tạo ra sự mềm mại, uyển chuyển. Các nghệ nhân có thể biểu diễn điệu múa sao cho phù hợp với tính chất của lễ hội. Những nghệ nhân múa say sưa lúc thì tay đưa lên cao, lúc thì giang ngang, xòe ra uyển chuyển. Ba ngón tay giữa gập xuống, hai ngón út và ngón cái vẫn giữ nguyên vị trí, cổ tay chuyển động theo sự di chuyển của bàn chân và thân hình, tưởng tượng lúc như đôi cánh của con chim Grứ(đại bàng) đang vỗ dập dìu lao vút lên trên bầu trời xanh thăm thẳm của cao nguyên; lúc như chiếc đầu chim đang xoay sang trái, sang phải đưa cặp mắt sáng quắc quét qua toàn bộ khung cảnh xung quanh.
Điệu múa chim Grứ còn được sử dụng trong lễ cúng rước Kpan. Khi ghế kpan được đưa lên nhà sàn hòa trong âm thanh vang rộn của trống, của chiêng ngân vang, các nghệ nhân múa chim Grứ bắt đầu biểu diễn với tiết tấu nhanh, chậm theo nhịp chiêng, có lúc như thác đổ giục dã, vui nhộn, có lúc uyển chuyển nhẹ nhàng bay bổng. Người Êđê tin rằng đó là lúc các nghệ nhân thay lời gia chủ hoặc buôn làng, chuyển lời khẩn cầu được phù hộ hoặc mời gọi đến các vị thần và linh hồn tổ tiên. Đến khi tiếng trống tạm dừng, tiếng chiêng dần dần giảm nhẹ âm lượng và ngừng hẳn thì các cô gái cũng đã múa xong.
Điệu múa chim Grứ của người Êđê luôn hòa quyện với âm thanh dồn dập rộn ràng của dàn chiêng (ching knah), làm cho lễ hội thêm sôi nổi và lễ cúng càng thêm trang trọng.
Người múa trước đây thường là những người đàn bà lớn tuổi,trang trọng. Sau này đội hình múa dần dần được trẻ hóa, là những cô gái xinh đẹp, thân hình thon thả, đầy sức sống. Và, đặc biệt điệu múa Grứ chỉ được múa với đội hình số lẻ 3, 5, 7, hoặc 9 người.
Minh Quân (Theo Langvietonline.vn)
(langvietonline.vn (Làng Văn hóa Du lịch Các dân tộc Việt Nam))
Lễ dâng y Kathina là dịp để đồng bào Khmer và Phật tử thực hành hạnh bố thí, tạo phước báu; đồng thời gìn giữ, phát huy những giá trị văn hóa, tín ngưỡng truyền thống tốt đẹp của bà con Khmer Nam Bộ theo hệ phái Phật giáo Nam Tông.
Chào mừng kỷ niệm 195 năm thành lập tỉnh Thái Nguyên và Festival trà quốc tế Thái Nguyên 2026, ngày 31/10, tại xã Hợp Thành, tỉnh Thái Nguyên đã diễn ra Lễ hội cơm mới 2026 với chủ đề “Hương lúa mới - Sắc màu văn hóa Tày Hợp Thành”.
Khăn Piêu (hay Piêu), trong tiếng Thái gọi là Ba Piều (Piều), là loại khăn đội đầu truyền thống của phụ nữ dân tộc Thái ở vùng Tây Bắc Việt Nam, đặc biệt là phụ nữ nhóm Thái đen.
Gắn liền với đời sống sinh hoạt, sản xuất và tín ngưỡng của đồng bào M’Nông, Lễ cúng máng nước là nét đẹp văn hóa truyền thống, thể hiện lòng biết ơn thiên nhiên và ước vọng về cuộc sống bình an, no ấm. Nghi lễ vừa được phục dựng tại thôn Tak Xoai, xã Trà Leng, thành phố Đà Nẵng, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa, đồng thời nâng cao ý thức bảo vệ nguồn nước và môi trường sinh thái.
Cuối tháng 10, khi những cánh đồng lúa ở khu vực phía Tây tỉnh Quảng Ngãi bắt đầu ngả sang màu vàng, cũng là thời điểm bước vào mùa lễ hội của đồng bào dân tộc thiểu số Xơ Đăng, Bahnar. Với bà con Bahnar nhánh Giơ Lâng là Lễ Ét Đông (Lễ ăn con dúi), còn với bà con Xơ Đăng là Lễ Mừng lúa mới được tổ chức với cùng mong muốn và tạ ơn trời đất cho một vụ mùa bội thu, mang lại sự ấm cúng, bình yên cho dân làng. Những nét văn hóa đặc sắc trong mùa lễ hội của đồng bào Xơ Đăng, Bahnar nơi đây đã cùng vẽ nên “bức tranh” đầy màu sắc của cộng đồng các dân tộc giữa đại ngàn Tây Nguyên.
Nơi cuối nguồn Tây Nam của tổ quốc, bên dòng sông Hậu hiền hòa bao đời ôm lấy những xóm làng trù phú, có một cộng đồng hình thành từ bao đời nay, gìn giữ và bồi đắp nên một nét đẹp văn hóa đặc sắc với những dấu ấn rất riêng. Đó là đồng bào Chăm Islam An Giang.
Ngày 25/10, UBND xã Thượng Cốc, tỉnh Phú Thọ tổ chức Lễ hội Ruộng bậc thang Miền Đồi năm 2026. Lễ hội thu hút hàng nghìn người dân và du khách đến tham quan, trải nghiệm.
Giữa không gian núi đá trùng điệp nơi cực Bắc Tổ quốc, những thanh âm trống đồng, sắc màu trang phục truyền thống và các điệu múa dân gian của đồng bào Lô Lô đã tạo nên một không gian văn hóa đặc sắc tại xã Mèo Vạc, tỉnh Tuyên Quang.
Tây Ninh có 17 dân tộc thiểu số với 35.589 người, nhiều cộng đồng sinh sống tại các xã biên giới giáp Campuchia. Tỉnh chú trọng hỗ trợ sinh kế, chăm lo giáo dục, y tế, bảo tồn bản sắc văn hóa và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào.
Chiều 22/10, Binh đoàn 15 (Bộ Quốc phòng) tổ chức Lễ khánh thành, bàn giao Nhà rông văn hóa tặng nhân dân thôn Giang Lố 1, xã Sa Loong, tỉnh Quảng Ngãi. Công trình có tổng kinh phí hơn 2 tỷ đồng, do Binh đoàn 20 hỗ trợ, Binh đoàn 15 làm chủ đầu tư, Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 732 phối hợp triển khai thực hiện.
Sáng 22/10, Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh An Giang trang trọng tổ chức lễ Dâng y Kathina năm 2026, với sự tham dự của chư Tôn trưởng lão Hòa thượng, Thượng tọa, chư Tăng, sư trụ trì 66 chùa Phật giáo Nam tông Khmer cùng đông đảo đồng bào, Phật tử.
Tháng 6/2025, nghề dệt thổ cẩm của đồng bào Thái ở Nghệ An được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, tạo thêm cơ hội bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống gắn với phát triển du lịch cộng đồng.
Từ khi đàn đá Lộc Hòa được công nhận là Bảo vật quốc gia vào cuối năm 2017, nghệ thuật trình diễn đàn đá đã được đưa vào các trường học tại các xã, phường ở thành phố Đồng Nai.
Giữa nhịp sống hiện đại, khi nhiều giá trị truyền thống đứng trước nguy cơ mai một, Nùng Indigo (xóm Khào, xã Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng) trở thành điểm đến góp phần gìn giữ và lan tỏa sắc chàm đặc trưng của người Nùng An, mang đến trải nghiệm văn hóa gần gũi cho du khách.
Với chủ đề “Sắc màu văn hóa xứ Thanh”, từ ngày 22 - 24/11, tỉnh Thanh Hóa tổ chức Ngày hội Văn hóa các dân tộc tỉnh Thanh Hóa năm 2026 tại Quảng trường Lam Sơn, phường Hạc Thành.
Lao Chải (tỉnh Lào Cai) là vùng đất mang đậm dấu ấn văn hóa Mông, với ruộng bậc thang, trang phục truyền thống, tiếng khèn cùng các nghề thủ công được trao truyền qua nhiều thế hệ.
Ngày 19/10, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam khai mạc Không gian trưng bày thành tựu nghiên cứu khoa học với chủ đề “Phát huy nguồn lực nhân văn - Phát triển bao trùm, bền vững”.