Người Chu Ru

Người Chu Ru
Tên gọi khác: Chơ Ru, Kru, Thượng.

Dân số: 19.314 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynêxia, (ngữ hệ Nam Ðảo), gần với tiếng Chăm. Có một bộ phận người Chu Ru sống gần với người Cơ Ho nên nói tiếng Cơ Ho (thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me).

Lịch sử: Có lẽ xa xưa, tổ tiên người Chu Ru là một bộ phận trong khối cộng đồng Chăm; về sau, họ chuyển lên miền núi sống biệt lập với cộng đồng gốc nên thành người Chu Ru.

Hoạt động sản xuất: Người Chu Ru sống định cư, định canh trên cơ sở một truyền thống nông nghiệp từ lâu đời. Ruộng ở đây có hai loại: ruộng sình và ruộng khô. Việc làm thuỷ lợi bằng mương, phai, đê, đập được chú trọng. Vườn có trên rẫy và vườn ở gần nhà. Chăn nuôi có gia súc và gia cầm. Săn bắn, hái lượm và đánh cá là hoạt động thường xuyên. Nghề thủ công gia đình được phổ biến có đan lát, gốm thô.
Người Chu ru
Người Chu ru

Ăn: Lương thực chính là gạo tẻ được nấu trong những nồi đất nung tự tạo. Lương thực phụ có ngô, khoai, sắn. Thức ăn có măng rừng, rau đậu, cá suối, chim thú săn bắn được. Thức uống có rượu cần và rượu cất. Nam nữ đều thích hút thuốc lá sợi bằng tẩu.

Mặc: Nghề dệt không phát triển nên những sản phẩm của y phục như: váy, áo, khố, mền, địu... có được đều do trao đổi với các tộc láng giềng như: Chăm, Cơ Ho, Raglai, Mạ...

Ở: Hiện tại, họ sống ở hai xã Ðơn và Loan thuộc huyện Ðơn Dương, một số khác ở huyện Ðức Trọng và Di Linh tỉnh Lâm Ðồng. Tại hai huyện An Sơn và Ðức Linh thuộc tỉnh Ninh Thuận cũng có vài ngàn người Chu Ru sinh sống. Người Chu Ru ở nhà sàn làm bằng tre, gỗ, bương, mai, lợp bằng cỏ tranh. Họ cư trú theo đơn vị làng (plei) và những gia đình thân thuộc thường xây cất nhà cửa gần gũi nhau.

Phương tiện vận chuyển: Chiếc gùi nan cõng trên lưng vẫn là phương tiện vận chuyển được sử dụng thường xuyên cho mọi người.

Quan hệ xã hội: Quan hệ chủ đạo trong cơ cấu xã hội Chu Ru là gia đình mẫu hệ với vai trò được tôn vinh là người phụ nữ, người thừa kế của gia đình, dòng họ mẹ. Nếu nhìn vào bộ máy tự quản ở các làng thì ta thấy người đàn ông đang đứng mũi chịu sào trong mọi lĩnh vực để cho xã hội được vận hành theo định hướng của ông bà xưa. Thực ra, họ đã hành động theo ý chí của người vợ, người chủ nhân ngôi nhà mà họ đang cư ngụ theo tục cưới chồng. Xã hội đã có sự phân hoá giàu, nghèo nhưng không có sự xung đột giữa hai tầng lớp ấy trong làng.

Cưới xin: Người phụ nữ chủ động trong quan hệ lứa đôi. Việc "hỏi chồng" và "Cưới chồng" được thực hiện qua những thông tin ở việc trao tặng chàng trai chiếc nhẫn và chuỗi hạt cườm. Sau lễ cưới, người con gái phải ở dâu nửa tháng tại gia đình chồng để chờ lễ đón rể về nhà. Họ cư trú phía nhà gái.

Ma chay: Người Chu Ru theo tục thổ táng tại nghĩa địa chung của làng. Xưa kia, việc ma chay thường được tổ chức linh đình với lễ hiến sinh trâu bò.

Nhà mới: Việc dựng nhà mới được coi trọng với sự tập trung tâm lực của gia đình chủ và sự hỗ trợ tích cực của cộng đồng làng. Khi khánh thành nhà mới và dọn về ở nhà mới, họ hàng và cả làng quây quần giúp đỡ. Họ tổ chức tiệc mặn để cầu cúng thần linh, thụ lộc và chia vui cùng gia chủ.

Lễ tết: Một năm với chu kỳ canh tác ruộng nước, người Chu Ru có nhiều nghi lễ như: cúng thần đập nước, thần mương nước, thần lúa khi gieo hạt, ăn mừng lúa mới, cúng sau mùa thu hoạch. Ðáng lưu ý là lễ cúng thần bơnung vào tháng hai âm lịch, dân làng thường hiến sinh dê. Và lễ cúng Yang Wer, một cây đại thụ ở gần làng, được coi là nơi ngự trị của các thần linh. Người ta thường làm những hình nộm dã thú bằng gỗ hay củ chuối để đặt dưới gốc cây.

Lịch: Người Chu Ru theo lịch âm, tính tháng chu kỳ canh tác nông nghiệp của tổ tiên xưa.

Học: Trước kia, người Chu Ru không có chữ viết, mọi sự truyền đạt, thông tin đều qua truyền khẩu.

Văn nghệ: Vốn ca dao, tục ngữ rất phong phú, phản ánh việc đề cao vai trò phụ nữ, ca ngợi chế độ gia đình mẫu hệ. Về nhạc cụ, đáng lưu ý là trống, kèn và chiêng. Ngoài ra còn một số nhạc cụ khác như: r’tông, kwao, terlia là những nhạc cụ đặc sắc của người Chu Ru. Trong hội hè, nhạc cổ truyền Chu Ru thường được cất lên cùng với vũ điệu tamga nổi tiếng.

Chơi: Sở thích của trẻ em là đánh cù, chơi thả diều (diều bướm và diều sáo). Chúng cũng hay chơi trò kéo co, đi cà kheo, đuổi bắt nhau... 

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Chu Ru

Tên gọi khác: Chơ Ru, Kru, Thượng.

Dân số: 19.314 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynêxia, (ngữ hệ Nam Ðảo), gần với tiếng Chăm. Có một bộ phận người Chu Ru sống gần với người Cơ Ho nên nói tiếng Cơ Ho (thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me).

Lịch sử: Có lẽ xa xưa, tổ tiên người Chu Ru là một bộ phận trong khối cộng đồng Chăm; về sau, họ chuyển lên miền núi sống biệt lập với cộng đồng gốc nên thành người Chu Ru.

Hoạt động sản xuất: Người Chu Ru sống định cư, định canh trên cơ sở một truyền thống nông nghiệp từ lâu đời. Ruộng ở đây có hai loại: ruộng sình và ruộng khô. Việc làm thuỷ lợi bằng mương, phai, đê, đập được chú trọng. Vườn có trên rẫy và vườn ở gần nhà. Chăn nuôi có gia súc và gia cầm. Săn bắn, hái lượm và đánh cá là hoạt động thường xuyên. Nghề thủ công gia đình được phổ biến có đan lát, gốm thô

Ăn: Lương thực chính là gạo tẻ được nấu trong những nồi đất nung tự tạo. Lương thực phụ có ngô, khoai, sắn. Thức ăn có măng rừng, rau đậu, cá suối, chim thú săn bắn được. Thức uống có rượu cần và rượu cất. Nam nữ đều thích hút thuốc lá sợi bằng tẩu.

Mặc: Nghề dệt không phát triển nên những sản phẩm của y phục như: váy, áo, khố, mền, địu... có được đều do trao đổi với các tộc láng giềng như: Chăm, Cơ Ho, Raglai, Mạ...

Ở: Hiện tại, họ sống ở hai xã Ðơn và Loan thuộc huyện Ðơn Dương, một số khác ở huyện Ðức Trọng và Di Linh tỉnh Lâm Ðồng. Tại hai huyện An Sơn và Ðức Linh thuộc tỉnh Ninh Thuận cũng có vài ngàn người Chu Ru sinh sống. Người Chu Ru ở nhà sàn làm bằng tre, gỗ, bương, mai, lợp bằng cỏ tranh. Họ cư trú theo đơn vị làng (plei) và những gia đình thân thuộc thường xây cất nhà cửa gần gũi nhau.

Phương tiện vận chuyển: Chiếc gùi nan cõng trên lưng vẫn là phương tiện vận chuyển được sử dụng thường xuyên cho mọi người.

Quan hệ xã hội: Quan hệ chủ đạo trong cơ cấu xã hội Chu Ru là gia đình mẫu hệ với vai trò được tôn vinh là người phụ nữ, người thừa kế của gia đình, dòng họ mẹ. Nếu nhìn vào bộ máy tự quản ở các làng thì ta thấy người đàn ông đang đứng mũi chịu sào trong mọi lĩnh vực để cho xã hội được vận hành theo định hướng của ông bà xưa. Thực ra, họ đã hành động theo ý chí của người vợ, người chủ nhân ngôi nhà mà họ đang cư ngụ theo tục cưới chồng. Xã hội đã có sự phân hoá giàu, nghèo nhưng không có sự xung đột giữa hai tầng lớp ấy trong làng.

Cưới xin: Người phụ nữ chủ động trong quan hệ lứa đôi. Việc "hỏi chồng" và "Cưới chồng" được thực hiện qua những thông tin ở việc trao tặng chàng trai chiếc nhẫn và chuỗi hạt cườm. Sau lễ cưới, người con gái phải ở dâu nửa tháng tại gia đình chồng để chờ lễ đón rể về nhà. Họ cư trú phía nhà gái.

Ma chay: Người Chu Ru theo tục thổ táng tại nghĩa địa chung của làng. Xưa kia, việc ma chay thường được tổ chức linh đình với lễ hiến sinh trâu bò.

Nhà mới: Việc dựng nhà mới được coi trọng với sự tập trung tâm lực của gia đình chủ và sự hỗ trợ tích cực của cộng đồng làng. Khi khánh thành nhà mới và dọn về ở nhà mới, họ hàng và cả làng quây quần giúp đỡ. Họ tổ chức tiệc mặn để cầu cúng thần linh, thụ lộc và chia vui cùng gia chủ.

Lễ tết: Một năm với chu kỳ canh tác ruộng nước, người Chu Ru có nhiều nghi lễ như: cúng thần đập nước, thần mương nước, thần lúa khi gieo hạt, ăn mừng lúa mới, cúng sau mùa thu hoạch. Ðáng lưu ý là lễ cúng thần bơnung vào tháng hai âm lịch, dân làng thường hiến sinh dê. Và lễ cúng Yang Wer, một cây đại thụ ở gần làng, được coi là nơi ngự trị của các thần linh. Người ta thường làm những hình nộm dã thú bằng gỗ hay củ chuối để đặt dưới gốc cây.

Lịch: Người Chu Ru theo lịch âm, tính tháng chu kỳ canh tác nông nghiệp của tổ tiên xưa.

Học: Trước kia, người Chu Ru không có chữ viết, mọi sự truyền đạt, thông tin đều qua truyền khẩu.

Văn nghệ: Vốn ca dao, tục ngữ rất phong phú, phản ánh việc đề cao vai trò phụ nữ, ca ngợi chế độ gia đình mẫu hệ. Về nhạc cụ, đáng lưu ý là trống, kèn và chiêng. Ngoài ra còn một số nhạc cụ khác như: r’tông, kwao, terlia là những nhạc cụ đặc sắc của người Chu Ru. Trong hội hè, nhạc cổ truyền Chu Ru thường được cất lên cùng với vũ điệu tamga nổi tiếng.

Chơi: Sở thích của trẻ em là đánh cù, chơi thả diều (diều bướm và diều sáo). Chúng cũng hay chơi trò kéo co, đi cà kheo, đuổi bắt nhau...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Chu Ru

Có thể bạn quan tâm

Để bản sắc trở thành sức hút của điểm đến

Để bản sắc trở thành sức hút của điểm đến

Từ những sản phẩm dệt lanh qua đôi bàn tay phụ nữ dân tộc Mông, xã Lùng Tám (tỉnh Tuyên Quang) đang tìm hướng kết nối nghề truyền thống với hoạt động trải nghiệm, giới thiệu văn hóa và tiêu thụ sản phẩm.

Thái Nguyên: Mùa vàng trên Bản Tèn

Thái Nguyên: Mùa vàng trên Bản Tèn

Với khí hậu mát mẻ, giao thông thuận lợi, bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo… Bản Tèn, xã Văn Lăng, tỉnh Thái Nguyên, hội tụ nhiều đặc điểm để phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch cộng đồng, du lịch trải nghiệm, đặc biệt là mùa lúa chín vào khoảng tháng 10 hàng năm.

Về Tuyên Quang bắt cá bằng tay

Về Tuyên Quang bắt cá bằng tay

Xuống ruộng bắt cá bằng tay, tìm hiểu cách chế biến món ăn truyền thống, tham quan những gian hàng nông sản và hòa vào sinh hoạt văn hóa của người Tày là những hoạt động được xã Mậu Duệ, tỉnh Tuyên Quang đưa vào Lễ hội Tết cá năm 2026.

Khám phá sắc màu thiên nhiên và văn hóa nơi vùng cao Pu Nhi

Khám phá sắc màu thiên nhiên và văn hóa nơi vùng cao Pu Nhi

Cách trung tâm hành chính tỉnh Điện Biên khoảng 30km, xã Pu Nhi hấp dẫn du khách bởi những thửa ruộng bậc thang mùa lúa chín, cảnh sắc núi rừng mùa thu và những giá trị văn hóa truyền thống được đồng bào Mông gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Rộn ràng chương trình mừng Lễ Sene Dolta năm 2026 tại TP Cần Thơ

Rộn ràng chương trình mừng Lễ Sene Dolta năm 2026 tại TP Cần Thơ

Sáng 11/10/2026, tại Chùa Đay Om Pu (xã Gia Hòa), thành phố Cần Thơ tổ chức chương trình truyền hình trực tiếp mừng Lễ Sene Dolta năm 2026 với chủ đề “Gìn giữ bản sắc văn hóa, phát huy sức mạnh đoàn kết, kiến tạo tương lai”. Hoạt động nhằm lan tỏa không khí rộn ràng, đầm ấm của ngày lễ lớn đến với đông đảo đồng bào Khmer.

Người trẻ kể chuyện văn hóa Khmer để lan tỏa bản sắc dân tộc

Người trẻ kể chuyện văn hóa Khmer để lan tỏa bản sắc dân tộc

Ngày 10/10, tại TP Hồ Chí Minh, vlog “Sắc Khmer” được giới thiệu, ghi lại hành trình học sinh tìm hiểu lễ Sene Dolta và sinh hoạt tại chùa Kh’leang. Hoạt động hướng đến giúp thanh thiếu niên tham gia giới thiệu văn hóa cộng đồng bằng trải nghiệm và lời kể của mình.

Hướng về cội nguồn, kết nối di sản giữa lòng Thủ đô

Hướng về cội nguồn, kết nối di sản giữa lòng Thủ đô

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương không chỉ là lời tri ân sâu sắc đối với các bậc tiền nhân, mà còn là sợi dây tâm linh gắn kết những người con đất Việt. Việc gìn giữ và trao truyền những giá trị di sản là cách tiếp nối và bồi đắp dòng chảy văn hóa dân tộc.

Hội đua bò Bảy Núi lan tỏa giá trị văn hóa của đồng bào Khmer Nam Bộ

Hội đua bò Bảy Núi lan tỏa giá trị văn hóa của đồng bào Khmer Nam Bộ

Ngày 10/10, tại sân đua bò xã An Cư (gần chùa Thơ Mít), Sở Văn hóa, Thể thao tỉnh An Giang phối hợp với Báo và Phát thanh - Truyền hình An Giang, UBND xã An Cư tổ chức Hội đua bò Bảy Núi tranh cúp Truyền hình An Giang lần thứ 31 năm 2026. Sự kiện thu hút hàng nghìn lượt người dân, du khách trong và ngoài nước đến theo dõi, cổ vũ, góp phần tôn vinh nét văn hóa đặc sắc của đồng bào Khmer Nam Bộ.

Lễ hội Katê - Kết nối di sản trong dòng chảy văn hóa đương đại

Lễ hội Katê - Kết nối di sản trong dòng chảy văn hóa đương đại

Sáng 10/10, tại Tháp Pô klong Garai (phường Đô Vinh), đồng bào Chăm theo đạo Bàlamôn tại Khánh Hòa cùng đông đảo người dân, du khách hòa mình vào những nghi lễ truyền thống đặc sắc của Lễ hội Katê năm 2026. Tiếng trống Ginăng, Paranưng, tiếng kèn Saranai cùng những điệu múa Chăm tạo nên không khí lễ hội vừa trang nghiêm, vừa vui tươi.

Điện Biên mở hội, sắc màu văn hóa Mông cùng tỏa sáng

Điện Biên mở hội, sắc màu văn hóa Mông cùng tỏa sáng

Tối 9/10, tại Quảng trường 7/5, phường Điện Biên Phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với tỉnh Điện Biên tổ chức khai mạc Ngày hội Văn hóa dân tộc Mông lần thứ IV năm 2026 với chủ đề “Sắc màu văn hóa dân tộc Mông – Hội tụ và tỏa sáng”. Sự kiện nhằm tôn vinh, quảng bá các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Mông; góp phần bảo tồn, phát huy bản sắc dân tộc trong đời sống hiện đại. Đây cũng là dịp giới thiệu hình ảnh Điện Biên, tăng cường giao lưu giữa các địa phương có đồng bào Mông sinh sống, thúc đẩy kết nối văn hóa với phát triển du lịch.

Mùa vàng trải sóng ở Hoàng Su Phì

Mùa vàng trải sóng ở Hoàng Su Phì

Về thu, ruộng bậc thang Hoàng Su Phì khoác sắc vàng óng ả, từng lớp ruộng men theo sườn núi, uốn quanh mái nhà, nối nhau như những đợt sóng giữa đại ngàn.

Đặc sắc Lễ hội Cốm Co Giàng

Đặc sắc Lễ hội Cốm Co Giàng

Trong 2 ngày 9-10/10, người dân và du khách được trải nghiệm không gian văn hóa dân tộc Thái tại xã Pắc Ta (tỉnh Lai Châu) trong “Lễ hội Cốm Co Giàng” lần thứ I. Đây cũng là dịp để địa phương quảng bá sản vật, cảnh quan và tiềm năng du lịch.

Sắc màu văn hóa dân tộc Mông hội tụ tại Điện Biên

Sắc màu văn hóa dân tộc Mông hội tụ tại Điện Biên

Những đường thêu rực rỡ trên trang phục truyền thống, nét vẽ sáp ong trên vải lanh, tiếng búa rèn, nhịp giã bánh dày cùng các trò chơi dân gian tạo nên bức tranh văn hóa đa sắc màu tại Ngày hội Văn hóa dân tộc Mông lần thứ IV năm 2026 ở Điện Biên. Qua các hoạt động trưng bày, trình diễn và trải nghiệm, những giá trị truyền thống được tái hiện sinh động, góp phần lan tỏa bản sắc văn hóa và gợi mở hướng bảo tồn gắn với phát triển, nâng cao đời sống đồng bào.