Người dân Hòn Đất vẫn gắn bó với nghề nắn nồi đất dù thu nhập giảm

Các sản phẩm của làng nghề nắn nồi đất ở thị trấn Hòn Đất (Kiên Giang) được vận chuyển đến các tỉnh trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long để tiêu thụ. Ảnh: Văn Sĩ - TTXVN
Các sản phẩm của làng nghề nắn nồi đất ở thị trấn Hòn Đất (Kiên Giang) được vận chuyển đến các tỉnh trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long để tiêu thụ. Ảnh: Văn Sĩ - TTXVN

Nghề nắn nồi đất tại thị trấn Hòn Đất, huyện Hòn Đất (Kiên Giang) hình thành từ cuối thập niên 1920 (thế kỷ XX) tạo ra những vật dụng bếp bằng đất nung như: cà ràng (bếp lò có 3 chân), nồi, chảo, khuôn bánh khọt… phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Nhiều năm gần đây, dù đối mặt với không ít khó khăn do nhu cầu của thị trường giảm, giá nguyên liệu tăng nhưng nghề làm nồi đất vẫn được hàng trăm hộ gia đình duy trì để ổn định cuộc sống.

Người dân Hòn Đất vẫn gắn bó với nghề nắn nồi đất dù thu nhập giảm ảnh 1Ông Trần Ngọc Minh ở thị trấn Hòn Đất (Kiên Giang) đang kéo đường chỉ cho nồi đất. Ảnh: Văn Sĩ - TTXVN

Giữa cái nắng trưa chói chang hơn 33 độ C, vợ chồng bà Khổng Thị Thủy, ở ấp Đầu Doi, thị trấn Hòn Đất đang trở bề các khuôn bánh khọt để phơi nắng. Bà Thủy cho hay, đến nay gia đình gắn bó hơn 40 năm với nghề nắn khuôn bánh khọt. Thu nhập từ nghề này trong những năm gần đây cũng giảm thấp do số lượng khuôn bán ra giảm nhiều hơn so với trước đây.

Khoảng chục năm trước, khi trên thị trường sử dụng nhiều khuôn bánh khọt, gia đình bán mỗi ngày từ 70 đến 100 cái, thu nhập gần 300.000 đồng/ngày. Tuy nhiên, những năm gần đây, khi xuất hiện các loại khuôn bằng kim loại, số lượng khuôn đất nung làm ra giảm còn từ 30 đến 40 cái/ngày nên thu nhập chỉ khoảng 180.000 đồng/ngày. Tuy thu nhập không cao, nhưng cả hai vợ chồng hơn 60 tuổi rồi, không đi làm việc khác được nên vẫn chọn gắn bó với nghề này, bà Thủy cho hay.

Người dân Hòn Đất vẫn gắn bó với nghề nắn nồi đất dù thu nhập giảm ảnh 2Cà ràng (bếp lò có 3 chân) sau khi phơi khô chờ đem vào nung. Ảnh: Văn Sĩ - TTXVN

Ông Phạm Văn Thắng, ấp Đầu Dôi cho biết, đến nay, vợ chồng ông là thế hệ thứ 3 gắn bó với nghề làm cà ràng. Khoảng từ năm 2017 trở về trước, mỗi năm gia đình làm bán khoảng 5.000 đến 6.000 cái cà ràng. Nhưng từ năm 2018 đến nay, số lượng bán ra từ 2.000 đến 2.500 cái mỗi năm. Nguyên liệu để nắn cà ràng là đất sét. Đất sét sau khi được nhào nặn cho dẻ, bóng, sau đó áp vào khung nắn thành cà ràng. Sau đó, mang phơi nắng khoảng 3 ngày cho khô rồi đi nung hơn 2 ngày mới cho ra thành phẩm.

Gia đình ông Thắng chủ yếu làm cà ràng theo đơn đặt hàng của thương lái và tiền lời mỗi cái khoảng 2.000 đồng. Khoảng chục năm nay, cà ràng không còn là vật dụng thiết yếu của các gia đình, bởi đa số họ sử dụng bếp gas, bếp điện từ để nấu thức ăn nên giá bán cũng không tăng lên so với trước. Trong khi đó, giá đất sét làm nguyên liệu nắn cà ràng cũng tăng hơn trước nên người làm có rất ít lãi, chỉ khoảng 3 triệu đồng/tháng. Tuy vậy, gia đình ông Thắng vẫn duy trì bởi tình yêu nghề và được lao động tại quê nhà.

Người dân Hòn Đất vẫn gắn bó với nghề nắn nồi đất dù thu nhập giảm ảnh 3Phơi các khuôn bánh khọt. Ảnh: Văn Sĩ - TTXVN

Tương tự, gia đình ông Trần Ngọc Minh (75 tuổi) cùng ở ấp Đầu Dôi lại chuyên làm chảo để bán cho thương lái thu gom phục vụ thị trường Thành phố Hồ Chí Minh và một số thành phố khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Chỉ tính riêng năm 2022 và 2023 này, ông xuất bán hơn 12.000 chảo. Trung bình, mỗi người làm có thu nhập khoảng 100.000 đồng/ngày.

Theo ông Minh, chảo làm bằng đất nung khi kho cá hoặc kho thịt sẽ tạo được hương vị thơm ngon riêng mà các loại chảo, nồi kho bằng kim loại không thể có được. Vì thế, ông kỳ vọng nghề làm nồi đất vẫn được duy trì trong nhiều thập kỷ tới và gia đình vẫn tiếp tục gắn bó để vừa gìn giữ làng nghề truyền thống, vừa tạo nguồn thu nhập sinh sống.

Người dân Hòn Đất vẫn gắn bó với nghề nắn nồi đất dù thu nhập giảm ảnh 4Khuôn bánh khọt sau khi được nung. Ảnh: Văn Sĩ - TTXVN

Bà Khổng Thị Hiền là người chuyên kinh doanh, mua bán sản phẩm của làng nghề nắn nồi đất ở thị trấn Hòn Đất như: Bếp lò 3 chân, chảo, om, ơ, khuôn bánh khọt… Những năm gần đây, trung bình mỗi tháng, cửa hàng của bà Hiền xuất bán khoảng 3.000 sản phẩm; trong đó, chủ yếu là bán lẻ cho những người đi chợ và bán buôn cho một số cửa hàng ở các chợ tại Kiên Giang.

Tuy số lượng mặt hàng bán ra trong những năm gần đây giảm hơn so với những năm 2015 trở về trước nhưng nhu cầu sử dụng của các bà nội trợ vẫn khá ổn định - bà Hiền nhận xét.

Người dân Hòn Đất vẫn gắn bó với nghề nắn nồi đất dù thu nhập giảm ảnh 5Các sản phẩm của làng nghề nắn nồi đất ở thị trấn Hòn Đất (Kiên Giang) được vận chuyển đến các tỉnh trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long để tiêu thụ. Ảnh: Văn Sĩ - TTXVN

Ông Đặng Văn Nhường, Phó Chủ tịch UBND thị trấn Hòn Đất cho biết, nghề làm nồi đất ở thị trấn được hình thành hơn 100 năm qua và UBND tỉnh cũng đã công nhận làng nghề truyền thống. Hiện tại, toàn thị trấn có gần 200 gia đình với khoảng 600 người làm nghề.

Để làng nghề làm nồi đất ở địa phương tiếp tục được gìn giữ và phát triển trong thời gian tới, ông Nhường đề xuất, địa phương cần ban hành Nghị quyết để có biện pháp bảo tồn và phát huy. Ví dụ như tổ chức cho những người làm nghề đến tham quan tại một số làng nghề làm gốm nổi tiếng các địa phương khác để học hỏi kỹ thuật, công nghệ, làm ra những sản phẩm có mẫu mã phù hợp với nhu cầu thị trường. Cùng đó, có quy hoạch vùng nguyên liệu đất sét để đảm bảo cho việc khai thác, cung ứng cho nghề làm nồi đất.

Văn Sĩ

Văn Sĩ ((TTXVN))

Có thể bạn quan tâm

Lào Cai tăng cường quản lý đất đai, môi trường

Lào Cai tăng cường quản lý đất đai, môi trường

Sau sự việc cơ sở đốt than củi gây ô nhiễm, xã Đông Cuông, tỉnh Lào Cai rà soát toàn bộ 15 cơ sở sản xuất than củi quế, siết chặt quản lý đất đai, xây dựng và môi trường; yêu cầu hoàn thiện thủ tục pháp lý, hệ thống xử lý khí thải trước khi hoạt động trở lại.

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.