Người “giữ lửa” nghề dệt thổ cẩm của đồng bào M’nông

Tại biên giới thuộc xã Bù Gia Mập (thành phố Đồng Nai), bà Thị Y Rơ (76 tuổi, người dân tộc M’nông) vẫn ngày đêm lặng thầm “giữ lửa” nghề dệt thổ cẩm truyền thống của đồng bào M’nông. Trong cuộc sống hàng ngày, người nghệ nhân ấy chưa bao giờ ngơi nghỉ hành trình truyền dạy đường nét, sắc màu văn hóa dân tộc qua từng tấm thổ cẩm cho thế hệ sau.

Truyền cảm hứng nghề truyền thống

nghe-det-tho-cam-7.jpg
Bà Thị Y Rơ (76 tuổi, người dân tộc M’nông) chỉ dạy nghề dệt thổ cẩm cho người dân trong thôn.

Xã biên giới Bù Gia Mập là nơi có đông đồng bào S’tiêng và M’nông. Người dân nơi đây chủ yếu sống dựa vào cây điều, cây cao su hoặc chăn nuôi. Cuộc sống đã có nhiều thay đổi theo hướng hiện đại hơn nhưng trong nếp nhà của bà Thị Y Rơ vẫn đều đặn vang lên tiếng lách cách của khung cửi. Đối với bà Y Rơ, tấm vải thổ cẩm không chỉ là tấm áo, tấm chăn mà là cả linh hồn cũng như bản sắc của cội nguồn truyền lại. Nhớ lại ký ức xa xưa, bà Y Rơ chia sẻ: "Tôi biết dệt từ lúc nhỏ, do bà và mẹ dạy lại. Ngày xưa, ngoài ở nhà, các bà, các mẹ còn dạy chúng tôi dệt vải ngay cả khi đi làm ở trong nương rẫy. Ngoài ra, cứ sau mùa vụ rảnh rỗi ngày nào là mọi người lại tập trung nhau bên khung cửi để dệt".

Bà Thị Y Rơ (76 tuổi, người dân tộc M’nông) truyền dạy nghề dệt thổ cẩm cho con dâu là chị Thị Tức.

Bà Thị Y Rơ (76 tuổi, người dân tộc M’nông) truyền dạy nghề dệt thổ cẩm cho con dâu là chị Thị Tức.

Theo bà Y Rơ, hành trình giữ nghề chưa bao giờ dễ dàng. Những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước khiến việc học và dệt vải bị gián đoạn. Trong khói lửa chiến tranh, người dân phải sơ tán liên tục, hiếm khi có điều kiện ngồi bên khung cửi. Nguyên liệu dệt thời ấy cũng vô cùng khan hiếm. Những tấm thổ cẩm làm ra chủ yếu phục vụ gia đình hoặc dùng trong các nghi lễ truyền thống của người M’nông như cưới hỏi, lễ hội, cúng tế… Khi đất nước hòa bình, bà tự nhủ phải giữ bằng được nghề truyền thống của dân tộc mình. “Thế hệ trước đã truyền dạy cho mình thì mình phải tiếp tục truyền lại cho con cháu để cái nghề không bị mai một”, bà Y Rơ tâm sự. Nhiều năm qua, bà đã lặng thầm truyền lại tay nghề cho rất nhiều phụ nữ trong làng. “Ngọn lửa nghề” được gìn giữ ngay chính trong gia đình khi cả hai người con gái và người con dâu đều thành thạo dệt vải. Nhìn các con tỉ mẩn bên từng sợi chỉ màu, khéo léo dệt nên những hoa văn truyền thống tinh xảo, ánh mắt người nghệ nhân thổ cẩm già không giấu nổi niềm tự hào. “Bây giờ tụi nó đã biết dệt, đứa nào dệt cũng đẹp, tôi mừng lắm. Mai này tôi có yếu đi, nét hoa văn của người M’nông mình chắc chắn vẫn sẽ còn được lưu giữ trên dải đất biên giới này”, bà Y Rơ vui mừng chia sẻ.

Chị Thị Tức đã thành thạo dệt thổ cẩm sau khi học từ bà Thị Y Rơ.

Chị Thị Tức đã thành thạo dệt thổ cẩm sau khi học từ bà Thị Y Rơ.

Trong số những người thành thạo nghề từ bà Y Rơ truyền dạy, phải kể đến chị Thị Tức. Thị Tức là người con gái dân tộc S’tiêng về làm dâu trong gia đình M’nông. Hồi đầu, chị Tức không biết kỹ thuật dệt thổ cẩm. Thế nhưng “mưa dầm thấm lâu”, khi ở chung mái nhà, hàng ngày chứng kiến mẹ chồng tỉ mỉ bên khung cửi đã khơi dậy trong lòng người con dâu trẻ niềm đam mê mãnh liệt với những sắc màu thổ cẩm M’nông. Hiểu được tâm tư của con, bà Y Rơ đã tận tình chỉ bảo cho chị từ những bước cơ bản nhất như cách mắc sợi, phối màu cho đến kỹ thuật dệt các hoa văn cổ phức tạp trong bản sắc của dân tộc, buôn làng. Nhờ sự khéo léo và kiên trì, chị Tức giờ đây đã thành thạo nghề, tự tay sáng tạo nên nhiều sản phẩm thổ cẩm hoàn chỉnh và tinh xảo. Chị Thị Tức cho biết: “Lúc mới về làm dâu, tôi chưa biết dệt thổ cẩm đâu. Sau này ở chung một nhà, ngày nào cũng thấy mẹ chồng dệt, tôi thích lắm rồi được mẹ chồng cầm tay chỉ việc, dạy bảo tận tình nên mới biết dệt và gắn bó với khung cửi cho đến tận hôm nay”. Theo chị Thị Tức, dù đầu ra cho sản phẩm thổ cẩm vùng biên còn nhiều khó khăn nhưng việc gìn giữ nghề truyền thống là điều rất cần thiết. Chị mong muốn tiếp tục giữ nghề và truyền lại cho thế hệ sau để nét đẹp văn hóa này không bị mai một.

Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

Bà Thị Y Rơ tỉ mỉ từng đường chỉ để tạo tấm thổ cẩm chất lượng.

Bà Thị Y Rơ tỉ mỉ từng đường chỉ để tạo tấm thổ cẩm chất lượng.

Hiện nay, bà Thị Y Rơ là một trong những phụ nữ tiêu biểu của xã Bù Gia Mập trong việc gìn giữ nghề dệt truyền thống của đồng bào M’nông, S’tiêng. Những nỗ lực của bà không chỉ dừng lại trong phạm vi gia đình mà còn lan tỏa ra cộng đồng. Bà Điểu Thị Nương, chuyên viên phòng Văn hóa - Xã hội xã Bù Gia Mập chia sẻ, những nghệ nhân như bà Y Rơ đang giữ gìn tình yêu và sự đam mê cháy bỏng với nghề dệt thổ cẩm truyền thống. Trong bối cảnh đời sống hiện đại có nhiều thay đổi, việc các bà, các mẹ vẫn kiên trì bên khung cửi không đơn thuần là để mưu sinh mà còn là nỗ lực gìn giữ văn hóa vô giá của người M’nông. Sự bền bỉ ấy đã tạo ra sức lan tỏa mạnh mẽ, giúp thế hệ trẻ thêm yêu và tự hào về nguồn cội dân tộc. Những năm qua, địa phương luôn chú trọng công tác tuyên truyền, vận động người dân tích cực phát huy, truyền dạy nghề truyền thống cho con cháu để những sắc màu văn hóa độc đáo này không bị mai một.

Bà Thị Y Rơ (trái) giới thiệu tấm thổ cẩm đã hoàn chỉnh cho chuyên viên phòng văn hóa-xã hội xã Bù Gia Mập.

Bà Thị Y Rơ (trái) giới thiệu tấm thổ cẩm đã hoàn chỉnh cho chuyên viên phòng văn hóa-xã hội xã Bù Gia Mập.

Theo ông Trần Quang Bình, Phó Chủ tịch UBND xã Bù Gia Mập, nền văn hóa của đồng bào M’nông và S’tiêng nơi đây sở hữu những nét đặc sắc rất riêng; đồng thời có sự giao thoa văn hóa độc đáo. Trong đó, dệt thổ cẩm chính là một trong những nghề truyền thống nổi bật nhất của cộng đồng các dân tộc thiểu số trên địa bàn xã. Nhận thức được tầm quan trọng đó, công tác gìn giữ và bảo tồn giá trị văn hóa luôn nhận được sự quan tâm sát sao từ chính quyền địa phương cũng như các sở, ngành liên quan. Thông qua việc triển khai hiệu quả nhiều chương trình, hoạt động thiết thực, đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã Bù Gia Mập đã từng bước bảo tồn và duy trì bền vững nghề truyền thống này.

Bà Thị Y Rơ (76 tuổi, người dân tộc M’nông) giới thiệu tấm thổ cẩm đã hoàn chỉnh cho chuyên viên phòng văn hóa-xã hội xã Bù Gia Mập.

Bà Thị Y Rơ (76 tuổi, người dân tộc M’nông) giới thiệu tấm thổ cẩm đã hoàn chỉnh cho chuyên viên phòng văn hóa-xã hội xã Bù Gia Mập.

Thời gian qua, địa phương đã tổ chức các buổi trình diễn; đồng thời mở nhiều lớp dạy nghề nhằm khuyến khích thế hệ trẻ, thanh thiếu niên trong các gia đình, dòng tộc người M’nông và S’tiêng tiếp tục học tập, kế thừa nếp dệt xưa. "Trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã nhiệm kỳ vừa qua, địa phương đã chính thức đưa nội dung duy trì các sản phẩm thổ cẩm gắn liền với định hướng phát triển du lịch. Đây được xem là bước đi chiến lược nhằm vừa đẩy mạnh ngành du lịch địa phương vừa tạo sinh kế, phát triển kinh tế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số”, ông Trần Quang Bình cho biết thêm.

Bà Thị Y Rơ (76 tuổi, người dân tộc M’nông) với tấm thổ cẩm đã dệt hoàn chỉnh.

Bà Thị Y Rơ (76 tuổi, người dân tộc M’nông) với tấm thổ cẩm đã dệt hoàn chỉnh.

Những người phụ nữ như bà Thị Y Rơ đang góp phần gìn giữ sức sống cho di sản văn hóa M’nông, S’tiêng nơi vùng biên. Họ không chỉ gìn giữ những nếp hoa văn độc đáo của cha ông mà còn là những “người giữ lửa” đầy tâm huyết, trao truyền niềm tự hào dân tộc cho thế hệ mai sau. Sự đồng lòng của những người phụ nữ nơi đây, kết hợp với các định hướng phát triển du lịch đúng đắn của chính quyền, hứa hẹn sẽ đưa sắc màu thổ cẩm vùng biên vươn xa và trở thành động lực phát triển kinh tế bền vững hơn./.

Dân tộc M'nông

Tên tự gọi: Mnông.

Nhóm địa phương: Mnông Gar, Mnông Nông, Mnông Chil, Mnông Kuênh, Mnông Rlâm, Mnông Preh, Mnông Prâng, Mnông Ðíp, Mnông Bhiêt, Mnông Sitô, Mnông Bu Ðâng, Mnông Bu Nor, Mnông Bu Ðêh...

Dân số: 102.741 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).

Lịch sử: Người Mnông là cư dân sinh tụ lâu đời ở miền trung Tây Nguyên nước ta.

Hoạt động sản xuất: Người Mnông trồng lúa nương trên rẫy bằng phương pháp "đao canh hoả chủng": phát, đốt rồi chọc lỗ tra hạt; thu hoạch theo lối tuốt lúa bằng tay. Họ trồng lúa nước bằng phương pháp "đao canh thuỷ nậu" trên những vùng đầm lầy, dùng trâu để quần ruộng cho nhão đất rồi gieo hạt, không cấy mạ như ở đồng bằng. Ðiều đáng lưu ý là vai trò của cái cuốc trong nền nông nghiệp cổ truyền Mnông. Ði đôi với nền sản xuất nông phẩm, việc săn bắn, hái lượm còn giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày.

Sản xuất thủ công nghiệp gia đình phổ biến là nghề đan đồ gia dụng bằng nguyên liệu mây, tre, lá; thứ đến là nghề trồng bông dệt vải do phụ nữ đảm nhiệm. Trong mỗi làng còn có một số người biết làm gốm thô, nặn bằng tay và nung lộ thiên. Sản phẩm là nồi đất các loại, bát ăn cơm và vò, hũ. Nghề rèn nông cụ không được phát triển lắm trong các vùng Mnông. Ðặc biệt ở vùng Buôn Ðôn, cư dân có nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng rất nổi tiếng. Cho đến nay nghề này vẫn được tiếp tục duy trì tuy số voi săn bắt được hàng năm đã giảm đi đáng kể.

Ăn: Họ ăn cơm gạo tẻ nấu trong những nồi đất nung, xa xưa thì phổ biến là cơm lam (gạo nếp nấu trong ống nứa). Bữa ăn trưa ở trên ruộng rẫy thường là món cháo chua đựng trong những trái bầu khô. Thức ăn chủ yếu là muối ớt, canh rau rừng, thịt chim, thú và cá suối bắt được. Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm không phát triển. Rau củ được trồng trên rẫy để bổ sung cho nguồn thức ăn do hái lượm đem lại. Thức uống phổ biến là rượu cần.

Mặc: Về mùa nóng, đàn ông xưa kia thường đóng khố ở trần; còn đàn bà thì quấn váy tấm và cũng ở trần. Về mùa lạnh, họ khoác thêm trên mình một tấm mền, kiểu phục sức rất phổ biến ở Trường Sơn - Tây Nguyên. Hiện nay trong trang phục Mnông đã tiếp thu nhiều yếu tố Việt. Tập quán "cà răng căng tai" phổ biến trong xã hội cổ truyền, đến nay chỉ còn lại dấu ấn ở lứa tuổi những người cao niên.

: Hiện nay người Mnông cư trú tập trung theo nhóm địa phương, chủ yếu ở các huyện: Lắc, Mdrắc, Ðắc Nông, Ðắc Mil, Krông Pách, Ea Súp, Buôn Ðôn... thuộc tỉnh Ðắk Lắk; một bộ phận cư trú ở phía bắc tỉnh Sông Bé và tây nam tỉnh Lâm Ðồng; địa bàn phân bố về phía tây đến tận miền đông Cam-pu-chia, giáp ranh với biên giới nước ta. Tuỳ theo vùng và từng nhóm địa phương mà họ xây cất nhà trệt hoặc nhà sàn.

Nhà trệt có mái tranh gần sát đất và nền đất là mặt bằng sinh hoạt, rất phổ biến ở nhóm Mnông Gar, Mnông Preh, Mnông Prâng... Còn nhà sàn thường là sàn thấp, chỉ cách mặt đất khoảng 0m70 đến1m00 và phổ biến ở nhóm Mnông Kuênh, Mnông Chil, Mnông Bhiêt... Riêng nhóm Mnông Rlâm ở vùng hồ Lắc xây cất nhà sàn cao theo kiến trúc của người Ê Ðê. Dù là nhà sàn hay nhà trệt thì mái vẫn là cỏ tranh: khung và sườn nhà được kết hợp 2 loại nguyên liệu là tre nứa và gỗ cây... Các bộ phận được liên kết bằng chạc, ngoãm, dây mây và dây rừng.

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là cái gùi cõng trên lưng nhờ có 2 quai quàng qua đôi vai. Việc vận chuyển bằng voi là phương thức đặc biệt được chú trọng ở vùng người Mnông. Việc đi lại, vận chuyển trên sông, hồ có thuyền độc mộc.

Quan hệ xã hội: Ðơn vị cư trú cơ bản gọi là bon hay uôn, tương ứng với làng, xóm. Các gia đình trong làng có quan hệ láng giềng, quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân. Làng nhỏ có độ mươi nóc nhà, làng lớn có khi tập trung đến vài chục nóc. Quan hệ huyết thống ở đây tính theo dòng họ mẹ. Dấu vết của chế độ mẫu hệ còn rất đậm nét trong mọi quan hệ xã hội hiện nay. Song tập quán mẫu hệ đã và đang tan rã ở nhiều thang bậc khác nhau theo từng nhóm địa phương.

Trong xã hội cổ truyền người đứng đầu mỗi làng gọi là Rnút hay Kroanh bon, bên cạnh có người phụ tá gọi là Rnoi, Rnớp. Khi cần chiến đấu thì cử ra một chức sắc gọi là Né tăm lăm lở làm thủ lĩnh quân sự. Xã hội Mnông vận hành theo tập quán pháp và Tập quán pháp ca được truyền khẩu qua các thế hệ để làm chuẩn mực cho mọi ứng xử trong đời sống.

Cưới xin: Phụ nữ thường chủ động hơn trong việc hôn nhân. Lễ cưới do 2 bên cùng tổ chức. Sau hôn nhân phổ biến là cư trú phía nhà gái. Ở nhiều nhóm địa phương lại phổ biến hình thức luân cư song phương. Con sinh ra đều mang họ mẹ. Trong tập quán cưới xin có 3 nghi lễ là Sa ur, Tâm ốp và Tám nsông tương ứng với lễ chạm ngõ, lễ ăn hỏi và lễ thành hôn. Chế độ một vợ một chồng là quy tắc chặt chẽ trong quan hệ hôn nhân. Luật tục Mnông phạt vạ rất nghiêm khắc với tội loạn luân và ngoại tình.

Ma chay: Khi có người chết, cả làng nghỉ việc đồng áng để cùng lo mai táng, ma chay. Thi hài được quàn tại nhà khoảng 2 ngày đối với người chết già, chết vì bệnh tật. Họ rất kinh hãi và chối bỏ việc ma chay đối với mọi cái chết do tai nạn gây nên (chết đuối, ngã cây, rắn cắn, hổ vồ... và chết do chiến tranh, đâm chém). Những cái chết "bất đắc kỳ tử" như vừa nêu thì thi hài không được đem vào nhà mà phải mai táng tức khắc một cách thầm lặng. Thổ táng là hình thức duy nhất trong việc tang ma, không có tập quán cải táng. Mọi người chết đều được chia tài sản để mang về "lập nghiệp" ở thế giới của ông bà gọi là Phan.

Nhà mới: Khi một ngôi nhà được xây cất hoàn tất thì lễ khánh thành để vào nhà mới sẽ được tổ chức linh đình bằng một ngày tiệc mặn cúng hiến sinh heo. Sau bữa ăn rồi mới đến tiệc rượu cần rất rôm rả trong tiếng nhạc cồng chiêng.

Lễ tết: Lễ hội đâm trâu là lễ hội cổ truyền được coi trọng nhất. Kết thúc mùa thu hoạch lúa hàng năm, mỗi làng đều tổ chức tết ăn mừng cơm mới, tạ ơn trời đất và thần lúa. Trâu được hiến sinh trong hội lễ tưng bừng để chuẩn bị cho một mùa vụ mới tràn đầy hy vọng.

Lịch: Nông lịch cổ truyền Mnông tính theo lịch âm, dựa vào quy trình canh tác rẫy. Mỗi năm cũng có 12 tháng, mỗi tháng có từ 29 đến 30 ngày.

Học: Trong xã hội cổ truyền Mnông chưa có chữ viết, chỉ có văn chương truyền miệng. Việc giáo dục, học tập được thực hiện bằng phương pháp chỉ dẫn trực tiếp, làm mẫu noi theo, bắt chước. Thập kỷ gần đây mới xuất hiện chữ viết nhưng sự phổ biến rộng rãi đang vấp phải không ít trở ngại.

Văn nghệ: Kho tàng truyện cổ, đặc biệt là sử thi và tập quán pháp ca tiềm ẩn nhiều giá trị, đã và đang được khai thác giới thiệu. Tục ngữ, ca dao, dân ca rất phong phú. Nhạc cụ có cồng chiêng, kèn bầu, kèn sừng trâu, kèn môi, đàn độc huyền, đàn 8 dây, sáo dọc. Ðặc biệt là vỏ trái bầu khô được sử dụng một cách phổ biến để tạo nên bộ phận khuếch đại âm thanh trong nhiều nhạc cụ bằng tre, nứa. Người ta đã tìm thấy ở vùng cư trú của người Mnông bộ đàn đá nguyên thuỷ nổi tiếng từ giữa thế kỷ XX.

Chơi: Trẻ em thường thích chơi diều, đánh cù, bịt mắt bắt dê, chạy, nhảy...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc M'nông

Có thể bạn quan tâm

Quan tâm đời sống tín ngưỡng của đồng bào Công giáo vùng Dự án Cảng hàng không quốc tế Gia Bình ​

Quan tâm đời sống tín ngưỡng của đồng bào Công giáo vùng Dự án Cảng hàng không quốc tế Gia Bình ​

Ngày 10/6, Đoàn công tác do Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh Phạm Văn Thịnh làm Trưởng đoàn đã đến thăm, làm việc với Tòa Giám mục Bắc Ninh nhằm kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân; đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng Dự án Cảng hàng không quốc tế Gia Bình và các dự án liên quan.

Tạo sinh kế bền vững giúp đồng bào vùng cao thoát nghèo

Tạo sinh kế bền vững giúp đồng bào vùng cao thoát nghèo

Những năm qua, cùng với việc triển khai đồng bộ các Chương trình mục tiêu quốc gia, công tác giảm nghèo ở Tuyên Quang đã chuyển biến tích cực. Thay vì hỗ trợ mang tính ngắn hạn, các địa phương đang tập trung tạo sinh kế bền vững, giúp người dân có điều kiện phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập và từng bước vươn lên thoát nghèo bằng chính nội lực của mình.

Hỗ trợ 100% thẻ bảo hiểm y tế cho người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số

Hỗ trợ 100% thẻ bảo hiểm y tế cho người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số

Sáng 10/6, ông Danh Phúc, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn Giáo tỉnh An Giang cho bết, HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 08/2026/NQ-HĐND, ngày 21/5/2026 quy định mức hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế cho người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số không thuộc đối tượng đã được ngân sách nhà nước đóng và hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế trên địa bàn.

Đặc sản OCOP 'mở đường' cho kinh tế nông thôn

Đặc sản OCOP 'mở đường' cho kinh tế nông thôn

Những trái dâu tằm chín mọng trong vườn hữu cơ, những quả dưa lưới ngọt lành dưới chân núi Bà Đen hay đặc sản mãng cầu nổi tiếng của Tây Ninh giờ không chỉ là nông sản đơn thuần. Thông qua Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP), nhiều sản vật địa phương đang được nâng tầm thành thương hiệu, kết hợp với du lịch trải nghiệm để mở thêm cơ hội phát triển kinh tế bền vững cho vùng nông thôn.

Tuổi trẻ chung tay xây dựng biên cương

Tuổi trẻ chung tay xây dựng biên cương

Giữa màu xanh của núi đá và những thửa ruộng vùng cao đang vào vụ, khu vực mốc biên giới 291/2 thuộc xã Tùng Vài, tỉnh Tuyên Quang những ngày đầu tháng 6 trở nên rộn ràng hơn bởi bước chân của hàng trăm đoàn viên, thanh niên. 

Mở rộng liên kết chuỗi, gia tăng giá trị ngành hàng chủ lực ở Cà Mau

Mở rộng liên kết chuỗi, gia tăng giá trị ngành hàng chủ lực ở Cà Mau

Cà Mau là tỉnh có thế mạnh trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp với các ngành hàng chủ lực đem lại nguồn thu lớn cho nhà nông như tôm, cua, lúa, cá. Xác định trong nhiều năm tới nông nghiệp vẫn là lĩnh vực chủ lực của nền kinh tế, tỉnh Cà Mau đã có định hướng cũng như chiến lược dài hạn để tập trung phát triển mạnh kinh tế tập thể, gắn với liên kết, tiêu thụ sản phẩm nông sản, nhằm đem lại hiệu quả cao nhất.

Giáo dục vùng biên chuyển mình nhờ đầu tư đồng bộ

Giáo dục vùng biên chuyển mình nhờ đầu tư đồng bộ

Dù còn nhiều khó khăn về điều kiện kinh tế, khoảng cách địa lý và đời sống giáo viên, nhưng những năm gần đây, giáo dục vùng biên giới Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực. Sự quan tâm đầu tư của Nhà nước, chính quyền địa phương cùng tâm huyết của đội ngũ nhà giáo đang góp phần nâng cao chất lượng dạy và học, mở ra nhiều cơ hội phát triển cho học sinh nơi biên cương.

Cần sớm tháo gỡ khó khăn giao thông ở xã biên giới Bản Máy

Cần sớm tháo gỡ khó khăn giao thông ở xã biên giới Bản Máy

Mặc dù đã nhận được sự quan tâm, đầu tư của Trung ương và tỉnh Tuyên Quang, song do địa hình chia cắt, lại thường xuyên chịu ảnh hưởng bởi thiên tai nên đến nay nhiều tuyến đường trên địa bàn xã Bản Máy đã bị xuống cấp trầm trọng, gây ảnh hưởng lớn đến cuộc sống người dân.

Sơn La: Mùa thu hoạch lúa ở xã Yên Châu

Sơn La: Mùa thu hoạch lúa ở xã Yên Châu

Vụ lúa chiêm xuân đang bước vào giai đoạn chín rộ, mặc dù tiết nắng nóng, nhưng nông dân ở khắp các thôn bản của xã Yên Châu đang tập trung thu hoạch lúa, giải phóng đất chuẩn bị sản xuất vụ lúa mùa 2026. 

Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số

Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số

UBND Thành phố Hồ Chí Minh vừa yêu cầu các sở, ban, ngành chủ động triển khai các nhiệm vụ, chính sách liên quan đến các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn theo chức năng được giao; tăng cường tham mưu, đề xuất các cơ chế, chính sách phù hợp với điều kiện thực tế của thành phố.

Gắn xây dựng 'Thôn số' với thúc đẩy tiêu thụ nông sản, sản phẩm OCOP

Gắn xây dựng 'Thôn số' với thúc đẩy tiêu thụ nông sản, sản phẩm OCOP

Ngày 8/6, xã biên giới Bát Xát (tỉnh Lào Cai) tổ chức Lễ ra mắt mô hình "Thôn số" tại thôn 4. Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng, thể hiện quyết tâm chính trị cao của cấp ủy, chính quyền địa phương trong cụ thể hóa chủ trương chuyển đổi số, đổi mới phương thức quản trị xã hội, phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

Sớm hoàn thành những ngôi trường mới: Màu áo lính trên công trường vùng biên

Sớm hoàn thành những ngôi trường mới: Màu áo lính trên công trường vùng biên

Giữa những ngày hè nắng nóng nơi vùng biên Quảng Trị, trên các công trường xây dựng trường phổ thông dân tộc nội trú tại các xã Hướng Phùng, Thượng Trạch và Dân Hóa, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang đang miệt mài lao động cùng các đơn vị thi công; qua đó góp phần đẩy nhanh tiến độ công trình, đồng thời thể hiện trách nhiệm, tình cảm của người lính đối với sự nghiệp giáo dục nơi vùng sâu, vùng xa của quê hương.

Khám và phẫu thuật miễn phí cho trẻ em khuyết tật

Khám và phẫu thuật miễn phí cho trẻ em khuyết tật

Sáng 8/6, tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên, Sở Y tế tỉnh phối hợp với Trung tâm II thuộc Hội Cứu trợ trẻ em tàn tật Việt Nam tổ chức Chương trình “Hành trình gieo mầm xanh hi vọng” khám và phẫu thuật cho trẻ em khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.

Bộ đội Biên phòng đồng hành xây dựng nông thôn mới vùng biên

Bộ đội Biên phòng đồng hành xây dựng nông thôn mới vùng biên

Giữa những ngày đầu tháng 6/2026, trên các bản làng vùng biên của tỉnh Tuyên Quang, hình ảnh cán bộ, chiến sĩ biên phòng cùng người dân gùi cát, sỏi, xi măng làm đường giao thông, dọn dẹp vệ sinh môi trường hay hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc cây trồng đã trở nên quen thuộc. Những việc làm cụ thể, thiết thực không chỉ góp phần xây dựng nông thôn mới mà còn tô thắm hình ảnh người lính quân hàm xanh.

Tiếp sức học sinh vùng cao tự tin bước vào kỳ thi tốt nghiệp THPT

Tiếp sức học sinh vùng cao tự tin bước vào kỳ thi tốt nghiệp THPT

Kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông năm 2026 sẽ diễn ra trong hai ngày 11 và 12/6. Tại Cao Bằng có hơn 5.654 thí sinh dự thi ở 21 điểm thi trên địa bàn tỉnh. Đây là kỳ thi có số lượng thí sinh đông nhất từ trước đến nay, đặt ra yêu cầu cao về công tác tổ chức, bảo đảm an toàn, nghiêm túc và công bằng.

Người dân Sơn Phú chung tay vá đường huyết mạch

Người dân Sơn Phú chung tay vá đường huyết mạch

Nhiều năm qua, mỗi khi mùa mưa đến, tuyến đường đất đỏ dài khoảng 9 km dẫn vào thôn Sơn Phú, xã Thọ Sơn, thành phố Đồng Nai lại trở thành nỗi ám ảnh của người dân địa phương. Đường trơn trượt, lầy lội khiến việc đi lại, vận chuyển nông sản, thậm chí tiếp cận dịch vụ y tế gặp vô vàn khó khăn. Không chờ đợi nguồn vốn đầu tư của Nhà nước, gần 100 hộ dân trong thôn đã tự nguyện đóng góp kinh phí để sửa chữa tuyến đường huyết mạch, giúp việc đi lại thuận lợi hơn trong mùa mưa năm nay.

Xây dựng thương hiệu nông sản từ những mô hình kinh tế tập thể

Xây dựng thương hiệu nông sản từ những mô hình kinh tế tập thể

Với quyết tâm nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp và cải thiện đời sống người dân, tỉnh Lai Châu đang tích cực đẩy mạnh phát triển kinh tế tập thể gắn với sản xuất nông nghiệp an toàn. Nhiều mô hình hợp tác xã hoạt động hiệu quả đã và đang trở thành điểm tựa vững chắc cho hàng nghìn hộ dân vùng cao, góp phần quan trọng vào công cuộc xóa đói giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới trên vùng biên cương phía Tây Bắc của Tổ quốc.