Người Tà Ôi

Người Tà Ôi
Tên gọi khác: Tà Ôi, Pa Cô, Tà Uốt, KanTua, Pa Hy...

Nhóm địa phương: Tà Ôi, Pa Cô, Pa Hy.

Dân số: 43.886 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), Ít nhiều gần gũi với tiếng Cơ Tu và Bru - Vân Kiều. Giữa các nhóm có một số khác biệt nhỏ về từ vựng.

Lịch sử: Người Tà Ôi thuộc lớp dân cư tụ lâu đời ở Trường Sơn.

Hoạt động kinh tế: Làm rẫy, trồng lúa rẫy là nguồn sống chính của người Tà Ôi. Cách thức canh tác tương tự như ở các tộc Cơ Tu, Bru - Vân Kiều. Ruộng nước đã phát triển ở nhiều nơi.
Săn bắn, đánh cá, hái lượm đem lại thức ăn đáng kể. Nghề dệt chỉ có ở một số nơi, sản phẩm được các dân tộc láng giềng ưa chuộng (nhất là y phục có đính hoa văn bằng chì và cườm trắng). Ðồ đan mây tre chủ yếu đáp ứng nhu cầu tự cung tự cấp. Ðồ sắt, đồ gốm, đồ đồng chủ yếu do trao đổi với người Việt và các dân tộc khác; quan hệ hàng hoá với bên Lào cũng khá quan trọng. Nay đã sử dụng tiền, nhưng tập quán dùng vật đổi vật vẫn thông dụng.
Trang phục truyền thống của người Tà Ôi. Ảnh: internet
Trang phục truyền thống của người Tà Ôi. Ảnh: internet

Ăn: Cơm là lương thực chủ yếu: ngô, sắn, khoai, củ mài... bổ sung khi thiếu gạo. Thức ăn thông thường là các loại rau, măng, nấm, ốc, cá, thịt chim muông. Người Tà Ôi ưa thích món băm trộn tiết gia súc với thịt luộc. Thức ăn gồm nước lã, rượu, đặc biệt rượu chế từ nước thứ cây họ dừa được dùng phổ biến. Họ dùng tẩu tự tạo bằng gốc le hoặc bằng đất nung để hút thuốc lá.

Mặc: Nữ mặc váy ống loại ngắn và áo, hoặc váy loại dài che luôn cả từ ngực trở xuống (ở nhóm Tà Ôi phía biên giới thuộc A Lưới), có nơi dùng thắt lưng sợi dệt, năm quấn khố mặc áo, thường hay ở trần. Ngoài vải do tự dệt người Tà Ôi còn dùng vải mua ở Lào và y phục như người Việt đã thông dụng, nhất là với nam giới. Xưa kia, có những nơi phải dùng đò mặc chế tác từ vỏ cây. Hình thức đeo trang sức cổ truyền là các loại vòng tay, vòng chân, vòng cổ, khuyên tai, bằng đồng, bạc hay hạt cườm, mã não... Phụ nữ đeo cả loại vòng dây đồng quấn thành hình ống ôm quanh đoạn ống chân và cẳng tay. Tục cà răng, xăm trên da và đeo trang sức làm căng rộng lỗ xâu ở dái tai chỉ còn số ít ở các cụ già.

Ở: Người Tà Ôi cư trú trên một dải từ Tây Quảng Trị (huyện Hương Hoá) đến tây Thừa Thiên Huế (Huyện A Lưới và Hương Trà). Họ ở quần tụ thành từng làng; nhà sàn dài, trước kia dài có khi hàng trăm mét, gồm nhiều cặp vợ chồng cùng các con (gọi là "bếp"). Giữa các bếp trong làng thường có quan hệ bà con thân thuộc với nhau. Mái nhà uốn tròn ở 2 đầu hồi, trên đỉnh dốc có khau cút nhô lên. Trong nhà, mỗi "bếp" (gia đình riêng) đều có buồng sinh hoạt riêng.
Một lễ hội truyền thống của người Tà Ôi. Ảnh:internet
Một lễ hội truyền thống của người Tà Ôi. Ảnh:internet

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường thật là đeo gùi sau lưng. Có các loại, các cỡ gùi khác nhau, đan bằng mây hoặc tre lồ ô. Ðàn ông có riêng loại gùi 3 ngăn (gùi "cánh dơi") như gùi của đàn ông Cơ Tu, dùng khi đi săn, đi rừng, đi sang làng khác.

Quan hệ xã hội: Người Tà Ôi sống theo tập tục cổ truyền, trọng người già, tin theo "già làng", quý trẻ em không phân biệt trai hay gái. Mỗi làng bao gồm người của các dòng họ khác nhau, từng dòng họ có người đứng đầu, có kiêng cữ riêng và tên gọi riêng. Xã hội đã phân hoá giàu - nghèo và có sự khác nhau nhất định về vị thế, nhưng nếp cộng đồng dân làng vẫn đậm nét. Làng là đơn vị tổ chức xã hội cơ bản và tự quản trong xã hội cổ truyền.

Cưới xin: Trai gái lớn lên sau khi đã cắt cụt 6 chiếc răng cửa hàm trên thì được tìm hiểu nhau và lấy vợ, lấy chồng. Việc cưới hỏi do nhà trai chủ động. Nhà gái cho con đi làm dâu và được nhận của cải dẫn cưới gồm cồng, chiêng, ché, nồi đồng, trâu, lợn...
Cùng với đám cưới, cô dâu chú rể phải làm lễ "đạp bếp" tại nhà bố mẹ cô gái để đánh dấu từ đó cô ta sẽ thực sự là người nhà chồng, và ít năm sau phải tổ chức lễ tạ ơn "thần linh" đã cho hai người sống yên ổn với nhau. Người Tà Ôi thích cho con trai cô lấy con gái cậu.
Một số người giàu có không chỉ có một vợ.

Sinh đẻ: Phụ nữ phải kiêng kem nhiều trong thời kỳ có thai và sai khi mới sinh, với ý muốn nhờ vậy sẽ dễ đẻ, con dễ nuôi... Việc sinh nở có người giúp đỡ. Con trai hay con gái đều được yêu quý và tâm lý chung thường có cả hai. Sản phụ lao động cho tới khi ở cữ, và cũng chỉ nghỉ ít ngày sau khi sinh con.

Ma chay: Bãi mộ chung của làng chỉ chôn những người chết bình thường. QUAN TÀI ÐẼO ÐỘC MỘC. Ở người giàu thì quan tài được làm cầu kỳ hơn ở 2 đầu. Có tục "chia của" cho người chết như ở các dân tộc. Việc mai táng sau khi chết là tạm thời. Vài năm sau khi chôn, tang gia tổ chức lễ cải táng, đưa hài cốt vào quan tài mới và chôn trong bãi mộ, bên cạnh những thân nhân quá cố từ trước. Khi đó, nhà mồ được trang trí đẹp bằng chạm khắc và vẽ.

Thờ cúng: Người Tà Ôi tin mọi vật đều có siêu linh, từ trời, đất, núi, rừng, suối nước, cây cối cho đến lúa gạo, con người, con vật đều có "thần" hoặc hồn. Việc bói toán và cúng lễ là một phần quan trọng trong đời sống cá nhân cũng như cộng đồng dân làng. Mỗi dòng họ có một bàn thờ ở nhà trưởng họ, mọi gia đình đều có thể tới đó làm lễ cúng khi ốm yếu, rủi ro, cần khẩn một điều gì đó. Nhiều làng còn thờ cúng chung vật "thiêng" là hòn đá, cái vòng đồng, chiêng, ché... Chúng dị dạng hoặc có xuất xứ khác lạ, được coi là có quan hệ huyền bí đối với cuộc sống của làng.

Lễ tết: Có rất nhiều lễ cúng, liên quan đến sức khoẻ, tài sản, việc ngăn chặn dịch bệnh, việc làm rẫy... Những lễ lớn đều có đâm trâu tế thần và trở thành ngày hội trong làng. Gắn với chu kỳ canh tác có những lễ thức quan trọng nhằm cúng cầu thần lúa, mong bội thu, no đủ. Tết cổ truyền vào thời kỳ nghỉ ngơi sau khi tuốt lúa, trước mùa rẫy mới.

Lịch: Căn cứ vào quy luật tròn - khuyết của mặt trăng để xác định ngày trong tháng. Tháng có 30 ngày, năm có 12 tháng và có ngày tốt, ngày xấu cho các công việc khác nhau.

Học: Cách đây mấy chục năm, chữ viết ra đời trên cơ sở dùng chữ cái La-tinh để tạo ra bộ vần, lấy tiếng Pa Cô làm chuẩn.

Văn nghệ: Vốn tục ngữ, ca dao, câu đố, truyện cổ khá phong phú. Người già am hiểu thường kể cho con cháu các truyện thời xưa, có tác dụng vừa giải trí, vừa giáo dục. Dân ca có điệu Calơi đối đáp khi uống rượu, hội hè, điệu Ba boih hát một mình khi lao động hoặc đi đường, điệu Roih gửi gắm, dặn dò đối với các bậc con cháu nhân các dịp vui vẻ, điệu Cha chap dành cho tình cảm trai gái của thanh niên...

Nhạc cụ gồm nhiều loại: cồng, chiêng, tù và sừng trâu hay sừng dê, khèn 14 ống nứa, sáo 6 lỗ, nhị vừa kéo vừa điều khiển âm thanh bằng miệng, đàn Ta lư... Chúng được dùng vào những hoàn cảnh, tình huống khác nhau và theo các tập quán sẵn có của đồng bào. Ví dụ: Trong đám ma thì gõ một chiêng với một trống, ở lễ hội vui lại có thêm một tù và, một khèn bè...
Theo: Bức tranh Văn hóa các Dân tộc Việt Nam (NXB Giáo dục) (www.cema.gov.vn)

Có thể bạn quan tâm

Nét đẹp Lễ cúng máng nước của đồng bào M’Nông

Nét đẹp Lễ cúng máng nước của đồng bào M’Nông

Gắn liền với đời sống sinh hoạt, sản xuất và tín ngưỡng của đồng bào M’Nông, Lễ cúng máng nước là nét đẹp văn hóa truyền thống, thể hiện lòng biết ơn thiên nhiên và ước vọng về cuộc sống bình an, no ấm. Nghi lễ vừa được phục dựng tại thôn Tak Xoai, xã Trà Leng, thành phố Đà Nẵng, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa, đồng thời nâng cao ý thức bảo vệ nguồn nước và môi trường sinh thái.

Mùa lúa chín – Mùa lễ hội giữa Đại ngàn

Mùa lúa chín – Mùa lễ hội giữa Đại ngàn

Cuối tháng 10, khi những cánh đồng lúa ở khu vực phía Tây tỉnh Quảng Ngãi bắt đầu ngả sang màu vàng, cũng là thời điểm bước vào mùa lễ hội của đồng bào dân tộc thiểu số Xơ Đăng, Bahnar. Với bà con Bahnar nhánh Giơ Lâng là Lễ Ét Đông (Lễ ăn con dúi), còn với bà con Xơ Đăng là Lễ Mừng lúa mới được tổ chức với cùng mong muốn và tạ ơn trời đất cho một vụ mùa bội thu, mang lại sự ấm cúng, bình yên cho dân làng. Những nét văn hóa đặc sắc trong mùa lễ hội của đồng bào Xơ Đăng, Bahnar nơi đây đã cùng vẽ nên “bức tranh” đầy màu sắc của cộng đồng các dân tộc giữa đại ngàn Tây Nguyên.

Độc đáo Tết Raya của người Chăm Islam An Giang

Độc đáo Tết Raya của người Chăm Islam An Giang

Nơi cuối nguồn Tây Nam của tổ quốc, bên dòng sông Hậu hiền hòa bao đời ôm lấy những xóm làng trù phú, có một cộng đồng hình thành từ bao đời nay, gìn giữ và bồi đắp nên một nét đẹp văn hóa đặc sắc với những dấu ấn rất riêng. Đó là đồng bào Chăm Islam An Giang.

Sắc màu văn hóa Lô Lô hội tụ nơi biên cương

Sắc màu văn hóa Lô Lô hội tụ nơi biên cương

Giữa không gian núi đá trùng điệp nơi cực Bắc Tổ quốc, những thanh âm trống đồng, sắc màu trang phục truyền thống và các điệu múa dân gian của đồng bào Lô Lô đã tạo nên một không gian văn hóa đặc sắc tại xã Mèo Vạc, tỉnh Tuyên Quang.

Tây Ninh phát huy sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc

Tây Ninh phát huy sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc

Tây Ninh có 17 dân tộc thiểu số với 35.589 người, nhiều cộng đồng sinh sống tại các xã biên giới giáp Campuchia. Tỉnh chú trọng hỗ trợ sinh kế, chăm lo giáo dục, y tế, bảo tồn bản sắc văn hóa và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào. 

Quân đội chung tay gìn giữ văn hóa nhà rông

Quân đội chung tay gìn giữ văn hóa nhà rông

Chiều 22/10, Binh đoàn 15 (Bộ Quốc phòng) tổ chức Lễ khánh thành, bàn giao Nhà rông văn hóa tặng nhân dân thôn Giang Lố 1, xã Sa Loong, tỉnh Quảng Ngãi. Công trình có tổng kinh phí hơn 2 tỷ đồng, do Binh đoàn 20 hỗ trợ, Binh đoàn 15 làm chủ đầu tư, Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 732 phối hợp triển khai thực hiện.

Gìn giữ nét đẹp lễ Dâng y Kathina

Gìn giữ nét đẹp lễ Dâng y Kathina

Sáng 22/10, Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh An Giang trang trọng tổ chức lễ Dâng y Kathina năm 2026, với sự tham dự của chư Tôn trưởng lão Hòa thượng, Thượng tọa, chư Tăng, sư trụ trì 66 chùa Phật giáo Nam tông Khmer cùng đông đảo đồng bào, Phật tử.

Giữ hồn thổ cẩm trong nhịp sống đương đại

Giữ hồn thổ cẩm trong nhịp sống đương đại

Tháng 6/2025, nghề dệt thổ cẩm của đồng bào Thái ở Nghệ An được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, tạo thêm cơ hội bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống gắn với phát triển du lịch cộng đồng.

Gìn giữ sắc chàm của người Nùng An

Gìn giữ sắc chàm của người Nùng An

Giữa nhịp sống hiện đại, khi nhiều giá trị truyền thống đứng trước nguy cơ mai một, Nùng Indigo (xóm Khào, xã Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng) trở thành điểm đến góp phần gìn giữ và lan tỏa sắc chàm đặc trưng của người Nùng An, mang đến trải nghiệm văn hóa gần gũi cho du khách.

Lan tỏa sắc màu văn hóa các dân tộc xứ Thanh

Lan tỏa sắc màu văn hóa các dân tộc xứ Thanh

Với chủ đề “Sắc màu văn hóa xứ Thanh”, từ ngày 22 - 24/11, tỉnh Thanh Hóa tổ chức Ngày hội Văn hóa các dân tộc tỉnh Thanh Hóa năm 2026 tại Quảng trường Lam Sơn, phường Hạc Thành.