Nhà Dài cổ xưa của người Mạ ở Lâm Đồng

Nhà Dài cổ xưa của người Mạ ở Lâm Đồng
Giữa đại ngàn nam Tây Nguyên, xã Lộc Bắc, huyện Bảo Lâm (Lâm Đồng), vẫn tồn tại một ngôi nhà Dài cổ xưa của người Mạ. Chính bà Ka Dít (chủ nhân ngôi nhà) cũng không nhớ nổi ngôi nhà khai sinh từ lúc nào. 
Nhà Dài cổ xưa còn lại duy nhất của người Mạ ở Lâm Đồng
Nhà Dài cổ xưa còn lại duy nhất của người Mạ ở Lâm Đồng

Bà chỉ biết rằng, khi bà theo chồng đã được ở trong ngôi nhà này. Và các thế hệ trong dòng tộc cứ tiếp nối để bếp lửa nhà Dài không bao giờ tắt…
“Nào” - nơi thiêng của nhà Dài, để chiêng, ché quý. “Đor” - nơi hong lúa, bắp. Lễ làm rượu cần đãi khách. Trong không gian nhà Dài người Mạ. Bà Ka Dít với sản vật của núi rừng chuẩn bị đãi khách. Khung nhà Dài làm bằng gỗ, sàn lát tre, mái trong bằng lá mây rừng ngoài lợp tranh. Sinh hoạt hằng ngày của người Mạ bên nhà Dài. Già làng K’Diệp cùng trảy bắp với lũ trẻ trong làng. Bà cháu Giã lúa chày đôi. Bên nếp cửa nhà Dài.
“Nào” - nơi thiêng của nhà Dài, để chiêng, ché quý.
 
“Nào” - nơi thiêng của nhà Dài, để chiêng, ché quý. “Đor” - nơi hong lúa, bắp. Lễ làm rượu cần đãi khách. Trong không gian nhà Dài người Mạ. Bà Ka Dít với sản vật của núi rừng chuẩn bị đãi khách. Khung nhà Dài làm bằng gỗ, sàn lát tre, mái trong bằng lá mây rừng ngoài lợp tranh. Sinh hoạt hằng ngày của người Mạ bên nhà Dài. Già làng K’Diệp cùng trảy bắp với lũ trẻ trong làng. Bà cháu Giã lúa chày đôi. Bên nếp cửa nhà Dài.
“Đor” - nơi hong lúa, bắp.
 
“Nào” - nơi thiêng của nhà Dài, để chiêng, ché quý. “Đor” - nơi hong lúa, bắp. Lễ làm rượu cần đãi khách. Trong không gian nhà Dài người Mạ. Bà Ka Dít với sản vật của núi rừng chuẩn bị đãi khách. Khung nhà Dài làm bằng gỗ, sàn lát tre, mái trong bằng lá mây rừng ngoài lợp tranh. Sinh hoạt hằng ngày của người Mạ bên nhà Dài. Già làng K’Diệp cùng trảy bắp với lũ trẻ trong làng. Bà cháu Giã lúa chày đôi. Bên nếp cửa nhà Dài.
Lễ làm rượu cần đãi khách.
 
Nhà Dài cổ xưa của người Mạ ở Lâm Đồng ảnh 5
Trong không gian nhà Dài người Mạ.
 
“Nào” - nơi thiêng của nhà Dài, để chiêng, ché quý. “Đor” - nơi hong lúa, bắp. Lễ làm rượu cần đãi khách. Trong không gian nhà Dài người Mạ. Bà Ka Dít với sản vật của núi rừng chuẩn bị đãi khách. Khung nhà Dài làm bằng gỗ, sàn lát tre, mái trong bằng lá mây rừng ngoài lợp tranh. Sinh hoạt hằng ngày của người Mạ bên nhà Dài. Già làng K’Diệp cùng trảy bắp với lũ trẻ trong làng. Bà cháu Giã lúa chày đôi. Bên nếp cửa nhà Dài.
Bà Ka Dít với sản vật của núi rừng chuẩn bị đãi khách.
 
“Nào” - nơi thiêng của nhà Dài, để chiêng, ché quý. “Đor” - nơi hong lúa, bắp. Lễ làm rượu cần đãi khách. Trong không gian nhà Dài người Mạ. Bà Ka Dít với sản vật của núi rừng chuẩn bị đãi khách. Khung nhà Dài làm bằng gỗ, sàn lát tre, mái trong bằng lá mây rừng ngoài lợp tranh. Sinh hoạt hằng ngày của người Mạ bên nhà Dài. Già làng K’Diệp cùng trảy bắp với lũ trẻ trong làng. Bà cháu Giã lúa chày đôi. Bên nếp cửa nhà Dài.
Khung nhà Dài làm bằng gỗ, sàn lát tre, mái trong bằng lá mây rừng ngoài lợp tranh.
 
“Nào” - nơi thiêng của nhà Dài, để chiêng, ché quý. “Đor” - nơi hong lúa, bắp. Lễ làm rượu cần đãi khách. Trong không gian nhà Dài người Mạ. Bà Ka Dít với sản vật của núi rừng chuẩn bị đãi khách. Khung nhà Dài làm bằng gỗ, sàn lát tre, mái trong bằng lá mây rừng ngoài lợp tranh. Sinh hoạt hằng ngày của người Mạ bên nhà Dài. Già làng K’Diệp cùng trảy bắp với lũ trẻ trong làng. Bà cháu Giã lúa chày đôi. Bên nếp cửa nhà Dài.
Sinh hoạt hằng ngày của người Mạ bên nhà Dài.
 
Nhà Dài cổ xưa của người Mạ ở Lâm Đồng ảnh 9
Già làng K’Diệp cùng trảy bắp với lũ trẻ trong làng.
 
Nhà Dài cổ xưa của người Mạ ở Lâm Đồng ảnh 10
Bà cháu
 
“Nào” - nơi thiêng của nhà Dài, để chiêng, ché quý. “Đor” - nơi hong lúa, bắp. Lễ làm rượu cần đãi khách. Trong không gian nhà Dài người Mạ. Bà Ka Dít với sản vật của núi rừng chuẩn bị đãi khách. Khung nhà Dài làm bằng gỗ, sàn lát tre, mái trong bằng lá mây rừng ngoài lợp tranh. Sinh hoạt hằng ngày của người Mạ bên nhà Dài. Già làng K’Diệp cùng trảy bắp với lũ trẻ trong làng. Bà cháu Giã lúa chày đôi. Bên nếp cửa nhà Dài.
Giã lúa chày đôi.
 
Nhà Dài cổ xưa của người Mạ ở Lâm Đồng ảnh 12
Bên nếp cửa nhà Dài.

Theo nhandan.com.vn

Dân tộc Mạ

Tên tự gọi: Mạ.

Tên gọi khác: Châu Mạ, Chô Mạ, Chê Mạ.

Nhóm địa phương: Mạ Ngăn, Mạ Xốp, Mạ Tô, Mạ Krung.

Dân số: 41.405 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Lịch sử: Người Mạ là cư dân sinh tụ lâu đời ở Tây Nguyên.

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).

Hoạt động sản xuất: Nương rẫy đóng vai trò chủ yếu trong đời sống của người Mạ. Ðây là loại rẫy đa canh, ngoài trồng lúa còn trồng các loại cây khác như bắp, bầu, bí, thuốc lá, bông vải, ở vùng sông Ðồng Nai, người Mạ làm ruộng bằng kỹ thuật lùa cả đàn trâu xuống ruộng quần đất đến khi nhão bùn thì gieo lúa giống. Họ tính năng suất của rẫy theo số gùi lúa thu được khi trỉa một gùi lúa giống. Công cụ làm rẫy chủ yếu là rìu, xà gạc, dao, liềm, gậy chọc lỗ, gùi. Nghề đánh cá khá phổ biến. Trước đây, họ biết chế thuốc độc từ loại lá rừng bỏ xuống suối để bắt cá. Người Mạ nổi tiếng về nghề trồng bông dệt vải.

Ăn: Cơm gạo tẻ với muối trộn ớt, sả, măng tươi và một số loại rau rừng. Cách chế biến thức ăn chủ yếu là nướng, luộc, nấu canh. Họ thích uống rượu cần và hút thuốc lá bằng điếu khan.

Mặc: Phụ nữ mặc váy quấn dài quá bắp chân, áo chui đầu vừa sát thân dài tới thắt lưng, kín tà. Nam đóng khố, áo hở tà, vạt sau dài hơn vạt trước. Mùa lạnh, người già thường khoác thêm tấm mền. Người Mạ có tập quán cà răng, căng tai, phụ nữ thích đeo chuỗi hạt cườm nhiều màu sắc. Thanh niên mang nhiều vòng đồng ở cổ tay có ngấn khắc chìm như là ký hiệu của các lễ hiến sinh tế thần linh, cầu mát cho chính mình.

Ở: Người Mạ thường sống thành từng làng (bon) với một khu vực đất đai riêng biệt trên các cao nguyên Bảo Lộc, Di Linh, Ðạ Tẻ, lưu vực sông Ðồng Nai (Lâm Ðồng). Mỗi "bon" có từ 5 đến 10 nhà sàn dài. Nhà được làm bằng nứa, bương mai, hai mái lợp bằng lá mây. Mái cửa ra vào (cửa mẹ) uốn khum thành vòm bằng cành trúc đội trên mái cỏ. Xung quanh nhà ở, Họ còn dựng nhiều kho lúa trên sàn cao. Các cột nhà kho đều trang trí theo mô típ chày cối.

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là chiếc gùi nan mang sau lưng với nhiều loại to nhỏ khác nhau. Chiếc gùi dùng đi xa được trang trí hoa văn qua các đường đan. ở vùng ven sông Ðồng Nai, người Mạ làm thuyền độc mộc để đi lại, vận chuyển và đánh cá trên sông.

Quan hệ xã hội: Làng là đơn vị tổ chức xã hội cao nhất của người Mạ do chủ làng đứng đầu (quăng bon). Chủ làng có nhiệm vụ cùng tế trong các nghi lễ mang tính chất cộng đồng. Người Mạ tồn tại hai hình thức gia đình: gia đình lớn phụ quyền và gia đình nhỏ phụ quyền. Người chủ gia đình lớn là người cao tuổi nhất của thế hệ cao nhất trong gia tộc, có nhiệm vụ điều hành mọi công việc trong gia đình và trông coi các đồ dùng quý hiếm như chiêng, ché.

Trong loại gia đình lớn phụ quyền, từng cặp vợ chồng với con cái ở chung nhưng làm ăn riêng, còn gia đình nhỏ phụ quyền thì như một đơn vị kinh tế cá thể nhưng vẫn lưu giữ dấu vết của gia đình lớn phụ hệ.

Ngôi nhà dài truyền thống của người Mạ còn lại rất ít trong các buôn làng.

Cưới xin: Quyền chủ động hôn nhân do bên nhà trai, nhưng sau lễ cưới nếu nhà trai nộp đủ sính lễ thì đôi vợ chồng chỉ ở lại nhà gái 8 ngày, còn không, chàng trai phải ở rể đến khi nộp đủ mới được đưa vợ về nhà mình.

Sinh đẻ: Khi sinh con trai, nhau của đứa trẻ đựng trong vỏ trái bầu khô chôn trước nhà, nếu sinh con gái nhau chôn sau nhà. Sang ngày thứ 8, người mẹ bồng con ra sân tắm nắng, nếu con trai phải mang theo xà gạt, nỏ, dao vót nan, con gái mang theo gùi, rìu chẻ củi, túi đựng cơm và giới bên kia như xà gạt, rìu, ché, váy áo chôn cùng huyệt hoặc bỏ rải rác xung quanh mộ. Sau lễ mai táng thì bỏ mả và tang chủ phải kiêng 7 ngày không được vào rừng hoặc lên rẫy.

Thờ cúng: Người Mạ tin có thần (Yang). Họ thờ cúng nhiều Yang như Yang Hiu (thần nhà), Yang Koi (thần lúa), Yang Bơnơm (thần núi). Họ thường giết súc vật tế thần vào những dịp được mùa, sinh đẻ, bệnh tật, chết chóc. Lễ hiến sinh lớn nhất là lễ đâm trâu, thường được thực hiện lúc kết thúc mùa rẫy.

Lịch: Người Mạ theo âm lịch.

Học: Người Mạ không có chữ viết, nền văn hoá dân gian Mạ vẫn sống bằng lối sống nghìn xưa - thuộc lòng và truyền miệng.

Văn nghệ: Vốn văn học nghệ thuật dân gian khá phong phú gồm nhiều truyền thuyết, truyện cổ và những bài dân ca trữ tình gọi là "tam bớt".

Nhạc cụ truyền thống là bộ chiêng đồng 6 chiếc không núm. Khi hoà tấu có trống bịt da trâu đánh giáo đầu, giữ nhịp và đổ hồi trước khi kết thúc. Con trai Mạ thường thổi khèn bầu, sáo trúc, tù và bằng sừng trâu.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Mạ

Có thể bạn quan tâm

Nét đẹp Lễ cúng máng nước của đồng bào M’Nông

Nét đẹp Lễ cúng máng nước của đồng bào M’Nông

Gắn liền với đời sống sinh hoạt, sản xuất và tín ngưỡng của đồng bào M’Nông, Lễ cúng máng nước là nét đẹp văn hóa truyền thống, thể hiện lòng biết ơn thiên nhiên và ước vọng về cuộc sống bình an, no ấm. Nghi lễ vừa được phục dựng tại thôn Tak Xoai, xã Trà Leng, thành phố Đà Nẵng, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa, đồng thời nâng cao ý thức bảo vệ nguồn nước và môi trường sinh thái.

Mùa lúa chín – Mùa lễ hội giữa Đại ngàn

Mùa lúa chín – Mùa lễ hội giữa Đại ngàn

Cuối tháng 10, khi những cánh đồng lúa ở khu vực phía Tây tỉnh Quảng Ngãi bắt đầu ngả sang màu vàng, cũng là thời điểm bước vào mùa lễ hội của đồng bào dân tộc thiểu số Xơ Đăng, Bahnar. Với bà con Bahnar nhánh Giơ Lâng là Lễ Ét Đông (Lễ ăn con dúi), còn với bà con Xơ Đăng là Lễ Mừng lúa mới được tổ chức với cùng mong muốn và tạ ơn trời đất cho một vụ mùa bội thu, mang lại sự ấm cúng, bình yên cho dân làng. Những nét văn hóa đặc sắc trong mùa lễ hội của đồng bào Xơ Đăng, Bahnar nơi đây đã cùng vẽ nên “bức tranh” đầy màu sắc của cộng đồng các dân tộc giữa đại ngàn Tây Nguyên.

Độc đáo Tết Raya của người Chăm Islam An Giang

Độc đáo Tết Raya của người Chăm Islam An Giang

Nơi cuối nguồn Tây Nam của tổ quốc, bên dòng sông Hậu hiền hòa bao đời ôm lấy những xóm làng trù phú, có một cộng đồng hình thành từ bao đời nay, gìn giữ và bồi đắp nên một nét đẹp văn hóa đặc sắc với những dấu ấn rất riêng. Đó là đồng bào Chăm Islam An Giang.

Sắc màu văn hóa Lô Lô hội tụ nơi biên cương

Sắc màu văn hóa Lô Lô hội tụ nơi biên cương

Giữa không gian núi đá trùng điệp nơi cực Bắc Tổ quốc, những thanh âm trống đồng, sắc màu trang phục truyền thống và các điệu múa dân gian của đồng bào Lô Lô đã tạo nên một không gian văn hóa đặc sắc tại xã Mèo Vạc, tỉnh Tuyên Quang.

Tây Ninh phát huy sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc

Tây Ninh phát huy sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc

Tây Ninh có 17 dân tộc thiểu số với 35.589 người, nhiều cộng đồng sinh sống tại các xã biên giới giáp Campuchia. Tỉnh chú trọng hỗ trợ sinh kế, chăm lo giáo dục, y tế, bảo tồn bản sắc văn hóa và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào. 

Quân đội chung tay gìn giữ văn hóa nhà rông

Quân đội chung tay gìn giữ văn hóa nhà rông

Chiều 22/10, Binh đoàn 15 (Bộ Quốc phòng) tổ chức Lễ khánh thành, bàn giao Nhà rông văn hóa tặng nhân dân thôn Giang Lố 1, xã Sa Loong, tỉnh Quảng Ngãi. Công trình có tổng kinh phí hơn 2 tỷ đồng, do Binh đoàn 20 hỗ trợ, Binh đoàn 15 làm chủ đầu tư, Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 732 phối hợp triển khai thực hiện.

Gìn giữ nét đẹp lễ Dâng y Kathina

Gìn giữ nét đẹp lễ Dâng y Kathina

Sáng 22/10, Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh An Giang trang trọng tổ chức lễ Dâng y Kathina năm 2026, với sự tham dự của chư Tôn trưởng lão Hòa thượng, Thượng tọa, chư Tăng, sư trụ trì 66 chùa Phật giáo Nam tông Khmer cùng đông đảo đồng bào, Phật tử.

Giữ hồn thổ cẩm trong nhịp sống đương đại

Giữ hồn thổ cẩm trong nhịp sống đương đại

Tháng 6/2025, nghề dệt thổ cẩm của đồng bào Thái ở Nghệ An được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, tạo thêm cơ hội bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống gắn với phát triển du lịch cộng đồng.

Gìn giữ sắc chàm của người Nùng An

Gìn giữ sắc chàm của người Nùng An

Giữa nhịp sống hiện đại, khi nhiều giá trị truyền thống đứng trước nguy cơ mai một, Nùng Indigo (xóm Khào, xã Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng) trở thành điểm đến góp phần gìn giữ và lan tỏa sắc chàm đặc trưng của người Nùng An, mang đến trải nghiệm văn hóa gần gũi cho du khách.

Lan tỏa sắc màu văn hóa các dân tộc xứ Thanh

Lan tỏa sắc màu văn hóa các dân tộc xứ Thanh

Với chủ đề “Sắc màu văn hóa xứ Thanh”, từ ngày 22 - 24/11, tỉnh Thanh Hóa tổ chức Ngày hội Văn hóa các dân tộc tỉnh Thanh Hóa năm 2026 tại Quảng trường Lam Sơn, phường Hạc Thành.