Hướng về Đại hội XIV của Đảng, nhân dân xứ Mường, tỉnh Phú Thọ đặt trọn niềm tin với khí thế thi đua sôi nổi và kỳ vọng lớn lao vào sự lãnh đạo của Đảng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng tiếp tục đi vào cuộc sống, tạo động lực và khí thế mới để người dân vươn lên thoát nghèo, làm giàu chính đáng trên quê hương.
Ông Bùi Văn Khánh, Chủ tịch UBND xã Lạc Sơn (Phú Thọ), dân tộc Mường, đại diện cho người dân xứ Mường Vang kỳ vọng, Đại hội tiếp tục quan tâm sâu sắc đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, nhất là các chính sách phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường sinh thái và gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống. Việc đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng giao thông, điện, nước, viễn thông; nâng cao chất lượng giáo dục, y tế; hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, du lịch cộng đồng và chuyển đổi số ở cơ sở được xem là những yếu tố then chốt để cải thiện đời sống nhân dân.
Người dân phường Hòa Bình (Phú Thọ) theo dõi truyền hình trực tiếp phiên khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Trong không khí hân hoan, Bí thư Chi bộ tổ 9, phường Hòa Bình, ông Nguyễn Văn Tuyên cho biết, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng, diễn ra trong bối cảnh đất nước đang triển khai mạnh mẽ việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Chính vì vậy, Đại hội đã thu hút sự quan tâm sâu sắc của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, tạo nên khí thế phấn khởi, đồng thuận cao trong toàn xã hội.
Người dân phường Hòa Bình (Phú Thọ) nghiên cứu thông tin Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng qua kênh báo chí.
Ông Cấn Xuân Hồng, Bí thư Chi bộ tổ dân phố số 2, phường Hòa Bình chia sẻ, Đại hội XIV của Đảng có định hướng tuy duy đổi mới, tầm nhìn mới và những quyết sách chiến lược lớn, tạo nền tảng vững chắc đưa đất nước tiến mạnh trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Nhìn lại những thành tựu mà đất nước đã đạt được trong thời gian qua, nhân dân tin tưởng và hi vọng Đại hội XIV của Đảng sẽ đưa ra những quyết sách, chiến lược đúng đắn để đưa đất nước tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã lan tỏa rộng khắp mọi nơi từ các phường trung tâm cho đến các thôn, xóm vùng sâu vùng xa trong tỉnh Phú Thọ. Với sự tuyên truyền rộng khắp trên các phương tiện thông tin đại chúng, cán bộ, đảng viên, nhân dân có nhiều kênh thông tin để tiếp cận, nắm bắt về tình hình Đại hội.
Đường Chi Lăng, phường Hòa Bình rực rỡ cờ hoa, áp phích chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Tại Câu lạc hộ hưu trí Hòa Bình, nhiều người dân đã tham gia nghiên cứu tài liệu, đọc báo, cập nhật thông tin... Chủ nhiệm Câu lạc bộ hưu trí Quách Thế Tản cho biết, thông tin về Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV được đăng tải phổ biến trên các kênh báo chính thống lớn của Đảng, Nhà nước như: Thông tấn xã Việt Nam, Báo Nhân dân, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Báo Phú Thọ ... Qua đó, các hội viên đã tập trung về phòng đọc để cùng nghiên cứu, trao đổi về những quyết sách xây dựng và phát triển của Đảng, đổi thay của đất nước hùng cường.
Thời gian qua, công tác tuyên truyền về Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, được tỉnh Phú Thọ đặc biệt chú trọng, khắp các con phố, đường làng, ngõ xóm được phủ đỏ màu cờ Đảng, cờ Tổ quốc, tạo không khí hân hoan cho toàn thể cán bộ và người dân.
Các khẩu hiệu, băng rôn tuyên truyền về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tại quảng trường Hòa Bình.
Nhân dân xứ Mường tỉnh Phú Thọ đặt trọn niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, kỳ vọng vào sự đổi mới, sáng tạo, xác định mục tiêu, phương hướng phát triển đất nước trong thời gian tới. Với tư duy mới, tầm nhìn mới và những quyết sách chiến lược lớn, sẽ tạo nền tảng vững chắc đưa đất nước tiến mạnh trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam./.
Tên tự gọi: Mol (hoặc Mon, Moan, Mual).
Nhóm địa phương: Ao Tá (Âu Tá), Mọi Bi.
Dân số: 1.268.963 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường (ngữ hệ Nam Á).
Lịch sử: Cùng nguồn gốc với người Việt cư trú lâu đời ở vùng Hoà Bình, Thanh Hoá, Phú Thọ...
Hoạt động sản xuất: Nông nghiệp ruộng nước chiếm vị trí hàng đầu, cây lúa là cây lương thực chính. Công cụ làm đất phổ biến là chiếc cày chìa vôi và chiếc bừa đơn, nhỏ có răng bằng gỗ hoặc tre. Lúa chín dùng hái gặt bó thành cum gùi về nhà phơi khô xếp để trên gác, khi cần dùng, lấy từng cum bỏ vào máng gỗ, dùng chân chà lấy hạt rồi đem giã. Trong canh tác ruộng nước, người Mường có nhiều kinh nghiệm làm thuỷ lợi nhỏ.
Ngoài ruộng nước, người Mường còn làm nương rẫy, chăn nuôi gia đình, săn bắn, đánh cá, hái lượm và sản xuất thủ công nghiệp (dệt vải, đan lát...).
Ăn: Họ thích ăn các món đồ như xôi đồ, cơm tẻ đồ, rau, cá đồ. Cơm, rau đồ chín được dỡ ra rá tãi đều cho khỏi nát trước khi ăn. Rượu cần của người Mường nổi tiếng bởi cách chế biến và hương vị đậm đà của men được đem ra mời khách quý và uống trong các cuộc vui tập thể.
Phụ nữ cũng như nam giới thích hút thuốc lào bằng loại ống điếu to. Ðặc biệt, phụ nữ còn có phong tục nhiều người cùng chuyền nhau hút chung một điếu thuốc.
Mặc: Bộ y phục nữ đa dạng hơn nam giới và còn giữ được nét độc đáo. Khăn đội đầu là một mảnh vải trắng hình chữ nhật không thêu thùa, yếm, áo cánh (phổ biến là màu trắng) thân rất ngắn thường xẻ ở ngực và váy dài đến mắt cá chân gồm hai phần chính là thân váy và cạp váy. Cạp váy nổi tiếng bởi các hoa văn được dệt kỳ công. Trang sức gồm vòng tay, chuỗi hạt và bộ xà tích 2 hoặc 4 giây bạc có treo hộp quả đào và móng vuốt hổ, gấu bịt bạc.
Thầy mo khi hành lễ mặc y phục riêng. Ðó là chiếc áo dài 5 thân cài khuy bên nách phải, nhuộm màu xanh hoặc đen, thắt dây lưng trắng, đội mũ vải nhọn đầu. Thầy mỡi khi cúng chữa bệnh thường đội mũ chầu.
Ở: Người Mường sống tập trung thành làng xóm ở chân núi, bên sườn đồi, nơi đất thoải gần sông suối... ở tỉnh Hoà Bình, Thanh Hoá, Phú Thọ. Mỗi làng có khoảng vài chục nóc nhà, khuôn viên của mỗi gia đình thường nổi bật lên những hàng cau, cây mít. Ðại bộ phận ở nhà sàn, kiểu nhà bốn mái. Phần trên sàn người ở, dưới gầm đặt chuồng gia súc, gia cầm, để cối giã gạo, các công cụ sản xuất khác.
Làm nhà mới, khi dựng cột bếp, người Mường có tục làm lễ nhóm lửa. Gia chủ lấy bẹ chuối cắt hình 3 con cá to kẹp vào thanh nứa buộc lên cột bếp, ở cột cái của bếp còn đặt một quả bí xanh. Trước lúc đun nấu ở nhà mới, gia chủ làm lễ nhóm lửa xin thần bếp cho đặt 3 hòn đầu rau và hòn đá cái. Ðêm đó gia chủ mời mọi người uống rượu cần dưới ánh sáng của ngọn lửa không tắt.
Phương tiện vận chuyển: Phụ nữ phổ biến dùng loại gùi đan bằng giang hoặc tre, 4 góc nẹp thành thẳng đứng, có dây đeo qua trán hoặc qua vai để chuyên chở. Ðôi dậu, đòn gánh có mấu 2 đầu, đòn xóc cũng thường được sử dụng.
Nước sạch được chứa trong ống nứa to, dài hơn 1 mét vác vai từ bến nước về dựng bên vách để dùng dần.
Quan hệ xã hội: Quan hệ trong làng xóm với nhau chủ yếu là quan hệ láng giềng. Gia đình 2-3 thế hệ chiếm phổ biến. Con cái sinh ra lấy họ cha. Quyền con trai trưởng được coi trọng va con trai trong gia đình được thừa kế tài sản.
Cưới xin: Trai gái tự do yêu đương tìm hiểu, ưng ý nhau thì báo để gia đình chuẩn bị lễ cưới. Ðể dẫn đến đám cưới phải qua các bước: ướm hỏi (kháo thếng), lễ bỏ trầu (ti nòm bánh), lễ xin cưới (nòm khảu), lễ cưới lần thứ nhất (ti cháu), lễ đón dâu (ti du). Trong ngày cưới, ông mối dẫn đầu đoàn nhà trai khoảng ba, bốn chục người gồm đủ nội, ngoại, bạn bè mang lễ vật sang nhà gái tổ chức cưới. Chú rể mặc quần áo đẹp chít khăn trắng, gùi một chón (gùi) cơm đồ chín (bằng khoảng 10 đấu gạo), trên miệng chón để 2 con gà sống thiến luộc chín. Trong lễ đón dâu, cô dâu đội nón, mặc váy áo đẹp ngoài cùng là chiếc áo dài màu đen thắt 2 vạt ở phía trước. Cô dâu mang về nhà chồng thường là 2 chăn, 2 cái đệm, 2 quả gối tựa để biếu bố mẹ chồng và hàng chục gối con để nhà trai biếu cô dì, chú bác.
Sinh đẻ: Khi người vợ sắp sinh con, người chồng phải chuẩn bị nhiều củi, làm một bếp riêng ở gian trong và quây phên nứa thành một buồng kín cho vợ đẻ. Khi vợ chuyển dạ đẻ, người chồng đi báo tin cho mẹ vợ và chị em họ hàng nội ngoại biết để đến nhà cùng nhau chờ đợi. Bà đỡ cắt rốn cho đứa trẻ bằng dao nứa lấy từ đầu chiếc dui trên mái nhà. Nếu là con trai thì dùng dao nứa mái nhà trước, nếu là con gái thì dùng dao nứa mái nhà sau. Cuống rốn của các con trong gia đình được đựng chung trong một ống nứa, họ tin rằng làm như thế lớn lên anh em sẽ thương yêu nhau.
Ngày sinh con, gia đình tổ chức ăn mừng, mời thầy mo cùng trừ mọi điều xấu hại đến mẹ con. Ðẻ được 3-7 ngày thường có nhiều anh em, bà con đến thăm hỏi tặng quà. Bà ngoại mừng cháu bao giờ cũng có vài vuông vải tự dệt, gia đình khá giả mừng thêm chiếc vòng bạc đeo cổ, anh em thân thích thì mừng gạo, mừng tiền.
Người đẻ thường ăn cơm nếp cẩm với lá tắc chiềng (loại lá thuốc chống được bệnh sài), uống nước nấu với các loại lá cây thuốc và trong thời gian cữ (7 đến 10 ngày) nhất là 3 ngày đầu luôn luôn phải sưởi bên bếp lửa. Trẻ sơ sinh nếu là trai thì được âu yếm gọi là lọ mạ (thóc giống), nếu là gái thì lại trìu mến gọi là cách tắc (rau cỏ). Thường thì trẻ khoảng 1 tuổi mới được đặt tên gọi chính thức.
Ma chay: Người chết tắt thở, con trai trưởng cầm dao nín thở chặt 3 nhát vào khung cửa sổ gia thờ, sau đó gia đình nổi chiêng phát tang. Thi hài người chết được liệm nhiều lớp vải và quần áo theo phong tục rồi để vào trong quan tài làm bằng thân cây khoét rỗng, bên ngoài phủ áo vẩy rồng bằng vải.
Tang lễ do thầy mo chủ trì, dẫn dắt. Bên cạnh hình thức chịu tang của con trai, con gái như vẫn bình thường thấy ở người Việt, riêng con dâu, cháu dâu chịu tang cha mẹ, ông bà còn có bộ tang phục riêng gọi là bộ quạt ma.
Lịch: Lịch cổ truyền người Mường gọi là sách đoi làm bằng 12 thẻ tre tương ứng với 12 tháng. Trên mỗi thẻ có khắc ký hiệu khác nhau để biết tính toán, xem ngày, giờ tốt xấu cho khởi sự công việc.
Người Mường ở Mường Bi có cách tính lịch khác với người Mường ở các nơi khác gọi là cách tính ngày lùi, tháng tới. Tháng giêng lịch Mường Bi ứng với tháng 10 của lịch Mường các nơi khác và tháng 10 âm lịch.
Văn nghệ: Hát Xéc bùa (có nơi gọi Xắc bùa hay Khoá rác) được nhiều người ưa thích. Thường (có nơi gọi Ràng thường hoặc Xường) là loại dân ca ca ngợi lao động, và các nét đẹp phong tục dân tộc. Bọ mẹng là hình thức hát giao du tâm sự tình yêu. Ví đúm cũng là loại dân ca phổ biến.
Bên cạnh đó, người Mường còn có các thể loại hát khác như hát ru, hát đồng dao... Ðặc biệt, ở người Mường phải kể đến lễ ca. Ðó là những áng mo, bài khấn do thầy mo đọc và hát trong đám tang.
Ngoài sáo, nhị, trống, kèn... thì cồng chiêng là nhạc cụ đặc sắc.
Chơi: Trò chơi của người Mường gần gũi với mọi đối tượng. Có những trò chơi được tổ chức chu đáo, công phu như: thi bắn nỏ, đánh đu, ném còn... Các trò chơi của lứa tuổi thiếu niên nhi đồng được tổ chức linh hoạt ở mọi nơi, mọi lúc với những điều kiện chơi đàn giản, tiện lợi như trò đánh cá cắt, trò cò le, trò đánh chó hoặc buôn chó, trò đánh mảng, trò chăm chỉ, chằm chăn.
Theo cema.gov.vn