Nhiều giải pháp phát triển bền vững nghề nuôi biển ở Kiên Giang

Nghề nuôi cá lồng bè ven biển ở Kiên Giang được ngư dân áp dụng từ những năm 2000, phát triển mạnh trong khoảng 5 năm trở lại đây và được đánh giá mang lại hiệu quả kinh tế ổn định. Đặc biệt, từ năm 2022 đến nay, khi đưa lồng nhựa HDPE thay thế lồng bè gỗ truyền thống cho thấy hiệu quả sản xuất cao hơn, được ngành chuyên môn và người nuôi đánh giá cao.

vna_potal_kien_giang_phat_trien_nuoi_ca_long_be_tren_bien_7087637.jpg
Nuôi cá lồng bè trên vùng biển Phú Quốc (Kiên Giang). Ảnh: Lê Huy Hải - TTXVN

Ông Ninh Văn Sờn, xã Hòn Nghệ, huyện Kiên Lương cho biết, đến nay gia đình gắn bó hơn 15 năm với nghề nuôi cá lồng bè. Trong số đó, cá bớp, cá mú trân châu là 2 loài nuôi chủ lực. Ngoài ra, ông Sờn cũng nuôi thêm cá hồng mỹ, cá chim vây vàng. Vụ nuôi 2024 này, gia đình nuôi 2 bè cá với 20 lồng nuôi hơn 10.000 con cá giống các loại. Đến nay, ông Sờn vẫn áp dụng nuôi 4 lồng nhựa HDPE và còn lại là lồng bè bằng cây gỗ.

“Nuôi bằng lồng HDPE cho thấy hiệu quả hơn so với lồng bè bằng cây gỗ với phao nổi. Nhưng chi phí cao, khoảng 40-60 triệu/lồng 10 m2 nên gia đình tôi không đủ tài chính đầu tư nhiều. Tôi cũng rất mong nhà nước có chính sách hỗ trợ vay vốn lãi suất ưu đãi hoặc trả dần để ngư dân có thể đầu tư nuôi hoàn toàn bằng thiết bị này”, ông Sờn cho biết.

Ông Sờn cũng cho biết thêm, từ cuối năm 2023 đến nay giá các loại cá nuôi duy trì khá cao nên đa số người nuôi đều có lời khá. Cụ thể, giá cá bớp hiện tại từ 200.000-220.000 đồng/kg, cá mú trân châu 250.000 đồng/kg. Riêng gia đình ông Sờn từ đầu năm 2024 đến nay đã bán được hơn 2.000 con cá, lợi nhuận hơn 100 triệu đồng sau khi trừ các khoản chi phí.

Là một trong những hộ đầu tiên áp dụng nuôi cá trong lồng bè HDPE ở xã Lại Sơn, huyện Kiên Hải, ông Lê Văn Xẻo, Giám đốc Hợp tác xã Tiến Đạt cho biết, Hợp tác xã hiện có 10 thành viên nuôi gần 200 lồng với nhiều loại cá như cá mú, cá chim vây vàng, cá bớp, cá mú trân châu… Trong số đó, cá bớp và cá mú là 2 loài nuôi chủ lực của Hợp tác xã nói riêng, các hộ nuôi biển ở xã Lại Sơn nói chung.

Ông Xẻo cũng cho hay, từ năm 2022 đến nay, Trung tâm Khuyến nông tỉnh phối hợp với một số đơn vị hỗ trợ cho các thành viên trong Hợp tác xã nuôi thử nghiệm bằng lồng bè nhựa HDPE với hơn 10 lồng. Sau 1 - 2 vụ nuôi đạt hiệu quả, đến nay bên cạnh hỗ trợ thí điểm phương pháp nuôi từ ngành chuyên môn, đa số các thành viên của Hợp tác xã đã đầu tư lồng bè nhựa để nuôi thay thế cho lồng bè làm bằng gỗ trước đây.

“So với lồng bè bằng cây gỗ, lồng bè bằng HDPE tiện lợi và hiệu quả hơn rất nhiều, cụ thể là lồng bè bằng gỗ 3-4 năm phải thay mới rất tốn công và cả chi phí. Trong khi đó, lồng bè bằng nhựa HDPE độ bền khoảng 20 năm, đó là chưa kể đến việc khi nuôi trong lồng bè nhựa chịu sóng tốt, cá phát triển tốt hơn. Tuy nhiên, vốn đầu tư lồng nhựa HDPE khá cao, hàng trăm triệu đồng nên nhiều người không có khả năng đầu tư”, ông Xẻo cho biết thêm.

vna_potal_kien_giang_phat_trien_nuoi_ca_long_be_tren_bien_6503392.jpg
Ngư dân xã Lại Sơn, huyện Kiên Hải nuôi cá lồng bè trên biển. Ảnh: Lê Sen - TTXVN

Chị Võ Thị Thắm, ở xã Hòn Tre, huyện Kiên Hải cho biết, hiện tại gia đình đang thả nuôi 40 lồng với nhiều loại cá như cá mú trân châu, cá chim vây vàng, cá cam, cá bớp, cá hồng mỹ, cá chẽm… Trung bình mỗi năm hộ chị Thắm xuất bán khoảng 40 tấn cá các loại và thu lời trên dưới 1 tỷ đồng.

Theo chị Thắm, cá mú nuôi từ 9 đến 10 tháng, trọng lượng đạt khoảng 1 kg/con là xuất bán. Còn cá bớp, thời gian nuôi từ 6 đến 7 tháng, đạt trọng lượng từ 6-8 kg/con là có thể thu hoạch.

“Vợ chồng tôi tham gia đầy đủ các lớp tập huấn, hội thảo để cập nhật các kiến thức nuôi cá, cũng như ứng dụng kịp thời khoa học kỹ thuật, công nghệ để nuôi đạt hiệu quả. Nhờ vậy, 2 năm nay gia đình tôi biết đến và áp dụng nuôi cá trong lồng nhựa HDPE mang lại hiệu quả hơn so với nuôi bằng lồng cây truyền thống, bởi độ bền lâu hơn và lượn sóng tốt hơn nên có thể nuôi ngoài khơi. Tôi mong cấp trên có chính sách ưu đãi để ngư dân có thể vay vốn đầu tư lồng HDPE để nuôi cho hiệu quả hơn”, chị Võ Thị Thắm chia sẻ.

Theo ông Đặng Tùng Long, Phó Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Kiên Hải, các khu vực nuôi cá lồng bè của huyện tập trung ở 4 xã, gồm Hòn Tre, Lại Sơn, An Sơn và Nam Du. Người dân chủ yếu nuôi cá mú, cá bớp, cá hồng mỹ, cá chim vây vàng, hàu, vẹm xanh…

Để giúp cho nghề nuôi này phát triển bền vững, bên cạnh các giải pháp chuyên môn, vấn đề cần quan tâm là khuyến khích, tạo điều kiện để người dân chuyển từ nuôi lồng cây truyền thống sang nuôi bằng lồng HDPE. Sau thời gian triển khai thí điểm, ngành nông nghiệp huyện đánh giá và xác định nuôi biển bằng lồng HDPE đạt hiệu quả hơn so với lồng truyền thống.

“Thời gian qua, Phòng Nông nghiệp huyện tuyên truyền, vận động người dân chuyển đổi sang nuôi cá bằng lồng HDPE, tuy nhiên, kinh phí đầu tư khá cao nên chưa được nhiều người áp dụng. Để cho nghề nuôi biển của huyện phát triển bền vững, huyện tiếp tục kêu gọi những công ty, doanh nghiệp sản xuất lồng HDPE có cơ chế trả góp cho nông dân để họ có thể đầu tư nuôi cá lồng bè bằng loại lồng nhựa này”, ông Long cho biết thêm.

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Kiên Giang, năm 2024 tỉnh đề ra kế hoạch thả nuôi 4.000 lồng nuôi cá biển. Từ đầu năm đến nay, ngư dân các khu vực ven biển, ven đảo thả nuôi hơn 2.800 lồng, đạt trên 70% kế hoạch, sản lượng thu hoạch hơn 2.000 tấn. Tình hình nuôi cá lồng bè của tỉnh từ đầu năm đến nay tương đối thuận lợi, giá cá thương phẩm khá cao nên hầu hết người nuôi đều mang về khoản lợi nhuận khá cao.

Để nghề nuôi thủy sản phát triển bền vững, theo ông Lê Hữu Toàn, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Kiên Giang, tỉnh đã và đang thực hiện kế hoạch phát triển nuôi biển giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030. Theo đó, tập trung ưu tiên bố trí, sắp xếp nghề nuôi biển như cá lồng bè, nhuyễn thể, đối tượng thủy sản khác theo hướng tập trung, liên kết sản xuất bền vững, gắn với giao khu vực biển, cấp mã số nhận diện cơ sở nuôi lồng bè trên biển theo quy định.

Đồng thời, đẩy mạnh khuyến ngư và tăng cường quản lý, giám sát chặt chẽ vùng nuôi gắn với quan trắc môi trường nước và năng cao năng lực chẩn đoán, cảnh báo dịch bệnh trên thủy sản, chất lượng nguồn nước giúp người nuôi chủ động trong thả cá nuôi, tránh bị thiệt hại, ảnh hưởng; tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật nuôi, cách phòng và điều trị bệnh cho cá, chuyển giao công nghệ, ứng dụng quy trình khoa học kỹ thuật vào nuôi cá để tăng năng suất, sản lượng, giảm giá thành sản xuất.

Tỉnh cũng tăng cường thông tin, khuyến khích triển khai nhân rộng phát triển liên kết chuỗi sản xuất, nuôi các đối tượng có giá trị kinh tế cao, nuôi cá lồng bè sử dụng thức ăn công nghiệp thay thế thức ăn cá tạp, khuyến cáo hộ nuôi cá đầu tư lồng nuôi bằng vật liệu HDPE thay thế lồng gỗ truyền thống. Song song đó, tỉnh sẽ tạo điều kiện cho ngư dân vay vốn, tìm thị trường đầu ra cho sản phẩm ổn định theo hướng vừa cung cấp tiêu thụ nội địa, vừa xuất khẩu.

“Ngành nông nghiệp tỉnh tiếp tục phối hợp Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố chỉ đạo chăm sóc, phòng trừ dịch bệnh trên thủy sản nói chung, nuôi cá nuôi lồng bè nói riêng. Đặc biệt, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư tiếp tục thực hiện rà soát giải quyết các hồ sơ đầu tư nuôi biển chưa đủ điều kiện để lấy ý kiến các sở, ngành và các hồ sơ đã lấy ý kiến nhưng chưa trình Ủy ban nhân dân tỉnh; tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức hội nghị nuôi biển tỉnh Kiên Giang để có những đánh giá, rút kinh nghiệm, bản giải pháp phát triển bền vững trong thời gian tới”, ông Lê Hữu Toàn nhấn mạnh.

Văn Sĩ

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.