Nuôi bò lai cho hiệu quả kinh tế cao

Nuôi bò lai cho hiệu quả kinh tế cao
Gia đình chị Rơ Chăm Ngân, dân tộc Jrai, ở làng Muông Yố 2, xã Ia Ka, huyện Chư Pah (Gia Lai) đầu tư nuôi bò góp phần tăng thu nhập. Ảnh: Trần Việt - TTXVN
Gia đình chị Rơ Chăm Ngân, dân tộc Jrai, ở làng Muông Yố 2, xã Ia Ka, huyện Chư Pah (Gia Lai)  đầu tư nuôi bò góp phần tăng thu nhập. Ảnh: Trần Việt - TTXVN
Krông Pa là địa phương có nhiều bò nhất tỉnh Gia Lai, với trên 62.000 con, chiếm 16,1% so với tổng đàn bò của tỉnh, song tỉ lệ bò lai chỉ đạt khoảng 20%. Nguyên nhân chủ yếu vẫn đến từ việc đa số đàn bò được chăn nuôi ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số (chiếm 60 – 70%), cùng với việc được nuôi trong nông hộ theo phương thức truyền thống, nguồn thức ăn phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên nên hiệu quả chăn nuôi không cao. Từ tháng 10/2017, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên đã triển khai dự án “Phát triển giống bò thịt chất lượng cao tại huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai”. Mục tiêu của dự án là đến tháng 10/2020, sẽ tạo ra 3.000 con bò lai thông qua thụ tinh nhân tạo với các giống con lai Brahman, Charolaise, Red Angus, Limousine và B.B.B; đồng thời khối lượng của bò lai theo hướng chuyên thịt sẽ cao hơn đàn bò địa phương từ 20 - 30% ở các giai đoạn sinh trưởng. Bên cạnh đó, dự án cũng đào tạo nhân lực, tập huấn kỹ thuật chăn nuôi bò cho bà con nông dân, xây dựng mô hình chăn nuôi bò cái lai sinh sản kết hợp thụ tinh nhân tạo, nâng cao hiệu quả kinh tế của mô hình so với tập quán chăn nuôi truyền thống từ 15 – 30%. Ông Mai Xuân Văn, trú xã Ia Rsươm, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai cho biết, gia đình ông nuôi bò từ năm 1984, song chủ yếu vẫn là các giống bò cỏ, cùng phương thức chăn nuôi truyền thống khiến hiệu quả kinh tế không cao. Tuy nhiên, từ khi được chọn làm điểm tham gia dự án “Phát triển giống bò thịt chất lượng cao tại huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai”, gia đình ông đã chuyển sang chăn nuôi bò lai theo hướng chuyên thịt (lai Reed Angus), đồng thời được dự án hỗ trợ sửa sang chuồng trại và cám cho bê con, nên hiệu quả kinh tế tăng lên rõ rệt.  “Một con bê con giống bò cỏ trước kia nuôi một năm chỉ được khoảng 100kg thôi, trong khi bê con giống bò chuyên thịt nuôi một năm có thể đạt 350kg. Với giá bán hơi hiện nay từ 65.000 – 70.000 đồng/kg thì trong một năm, con bê giống chuyên thịt bán được hơn 20 triệu, gấp hơn ba lần so với trước kia”, ông Mai Xuân Văn cho biết thêm. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Hữu Kiềm, dẫn tinh viên của dự án “Phát triển giống bò thịt chất lượng cao tại huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai”, hiện nay, đa số bò tại huyện Krông Pa đều được thương lái thu mua theo dạng cân hơi nên không phản ánh đúng giá trị thực của giống bò chuyên thịt. Bởi theo tính toán của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên, tỉ lệ thịt của bò lai Reed Angus đạt từ 52 – 56%, trong khi giống bò cỏ chỉ đạt từ 30 – 35%. Vì vậy, người dân địa phương vẫn mong chờ có doanh nghiệp thu mua bò thịt chuyên biệt dành riêng cho loại bò lai, để người nông dân được hưởng lợi nhuận thực từ giống bò của dự án. Ông Nguyễn Nam Hải, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Gia Lai – đơn vị giám sát dự án “Phát triển giống bò thịt chất lượng cao tại huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai” cho biết, việc thu hút các doanh nghiệp chế biến sâu về huyện Krông Pa để thu mua bò thịt đang được tỉnh Gia Lai đẩy mạnh. Nếu làm được điều này, dự án không chỉ mang lại giá trị kinh tế cao hơn cho người dân mà còn góp phần tạo ra sản phẩm gắn với đặc trưng riêng của bò Krông Pa, tiến tới xây dựng nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể và phát triển chỉ dẫn địa lý cho thương hiệu bò Krông Pa. Bên cạnh đó, từ tháng 10/2018 đến nay, dự án cấp không tinh bò lai đông lạnh của tỉnh đã cấp trên 6.000 liều tinh, sản xuất trên 4.000 con bê lai trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Ông Nguyễn Thanh Tâm, xã Bình Giáo, huyện Chư Prông cho biết, từ cuối năm 2018, ông được thụ hưởng chương trình cấp không tinh bò lai, mỗi lần phối giống bò chỉ phải trả tiền công. Hiện 2 con bò mẹ Bahman đã thụ thai được 5 tháng. Ông Tâm chia sẻ, các giống bò từ chương trình rất đảm bảo bởi đã qua khâu xử lý và kiểm dịch của cơ quan chuyên môn nên chỉ cần một lần phối là bò mẹ đã mang thai, không tốn nhiều thời gian và tiền bạc như trước. Nếu chăm sóc bài bản, một con bê 3 tháng giống B.B.B bán được 8 - 10 triệu đồng, nếu 8 tháng có thể bán được 26 triệu đồng, cao hơn nhiều so với giống bò cỏ. Ông Trịnh Quốc Việt, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Gia Lai nhấn mạnh, theo kế hoạch, từ nay đến hết năm 2020, dự án sẽ hỗ trợ 10.000 liều tinh miễn phí cho việc phối giống nhân tạo bò lai. Sau năm 2020, tỉnh Gia Lai sẽ tiếp tục có những chương trình để duy trì hệ thống phối giống nhân tạo bò lai, tăng cường phát triển tỉ lệ đàn bò lai, không chỉ dừng lại ở 40%, mà còn tiến xa hơn nữa – điều mà tỉnh Gia Lai đã thực hiện từ năm 1998 đến nay. “Riêng đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, chúng tôi thường xuyên tuyên truyền, vận động để nông dân hiểu được lợi ích của con bò lai, đồng thời phải loại thải các con bò đực địa phương, phát hiện kịp thời bò cái đòi đực để cách ly ra khỏi đàn, không đi chăn thả và gọi dẫn tinh viên đến phối giống để đảm bảo chất lượng giống bò lai nhân tạo”, ông Trịnh Quốc Việt cho biết thêm. Trong khi đó, kỹ sư Tôn Thất Dạ Vũ, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên cho rằng, để phát triển đàn bò thịt chất lượng cao tại huyện Krông Pa nói riêng và các địa phương khác của tỉnh Gia Lai, ngành chức năng tỉnh Gia Lai cần tiếp tục áp dụng biện pháp thụ tinh nhân tạo cho bò để nâng cao tầm vóc và chất lượng thịt; hoàn thiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng bò lai theo hướng thịt chất lượng cao từ lúc sơ sinh đến 18 tháng tuổi dựa vào nguồn thức ăn sẵn có của địa phương. Bên cạnh đó, cần nâng cao nhận thức và kiến thức cho người chăn nuôi trong vùng về việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về cải tạo giống và phát triển nguồn thức ăn cho đàn bò lai thông qua tập huấn, hội thảo nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi bò thịt của người dân.
Dư Toán

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.