Nuôi cá chình cho lợi nhuận cao

Thu hoạch cá chình thương phẩm tại ao nuôi đất của Công ty TNHH Việt Tam Nông. Ảnh: Hoàng Nhị - TTXVN
Thu hoạch cá chình thương phẩm tại ao nuôi đất của Công ty TNHH Việt Tam Nông. Ảnh: Hoàng Nhị - TTXVN

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã bắt đầu hình thành một số mô hình nuôi cá chình và người nuôi đã rất thành công. Qua thời gian hơn 2 năm nuôi, mô hình nuôi cá chình đã đem lại lợi nhuận kinh tế khá cao cho người nuôi.

Nuôi cá chình cho lợi nhuận cao ảnh 1 Thu hoạch cá chình thương phẩm tại ao nuôi đất của Công ty TNHH Việt Tam Nông. Ảnh: Hoàng Nhị - TTXVN

Hợp tác xã Nông nghiệp – Thủy sản Suối Giàu, xã Suối Rao, huyện Châu Đức đang rất thành công với mô hình nuôi cá chình trong ao đất. Với lợi thế có nguồn nước sạch cung cấp quanh năm từ các hồ Sông Ray, hồ Suối Giàu và hệ thống kênh mương phủ kín đã là điều kiện, yếu tố thuận lợi giúp hợp tác xã này thành công với mô hình nuôi cá chình.

Cá chình của Hợp tác xã Nông nghiệp – Thủy sản Suối Giàu được bắt đầu nuôi từ năm 2017, đến nay Hợp tác xã đã xây dựng được 20 hồ nuôi trên diện tích 16 ha để nuôi cá chình.

Giống cá chình trước đây thường được nhập khẩu từ Đài Loan hoặc thu mua giống tự nhiên từ ngư dân - đánh bắt được ở khu vực Phú Yên, Khánh Hòa. Tuy nhiên, với điều kiện thổ nhưỡng phù hợp, nguồn nước dồi dào từ hồ Suối Giàu và Sông Ray, hợp tác xã Suối Giàu đã thành công trong việc ươm giống loại cá này. Từ đầu năm 2018 đến nay, hợp tác xã đã cung ứng ra thị trường các tỉnh phía Bắc (Sơn La, Hà Giang, Cao Bằng,…), các tỉnh khu vực Tây Nguyên và các tỉnh miền Tây hơn 500.000 con cá chình giống (giá 4,5 triệu đồng/kg/100 con).

Tuy nhiên, định hướng chính của Hợp tác xã Nông nghiệp – Thủy sản Suối Giàu vẫn là phát triển thị trường cho cá chình thương phẩm. Hiện, mỗi lứa nuôi, hợp tác xã nuôi khoảng 30.000 con cá chình, thời gian nuôi khoảng hơn 2 năm, trọng lượng nuôi khoảng 1kg/con là có thể xuất bán.

Đối với thị trường trong nước, Hợp tác xã Nông nghiệp – Thủy sản Suối Giàu chủ động liên kết với các doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh mở cửa hàng bán lẻ cá chình phi lê chế biến sẵn, kèm các loại gia vị, rau cho từng món ăn. Hợp tác xã ước lượng mức tiêu thụ cho thị trường thành phố Hồ Chí Minh có thể vào khoảng 2 tấn/tháng.

Còn mô hình nuôi cá chình của Công ty TNHH Việt Tam Nông tại xã Bông Trang, huyện Xuyên Mộc cũng bắt đầu nuôi được 3 năm nay nhưng đã mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Mô hình nuôi cá chình của Công ty TNHH Việt Nam Nông được nuôi theo hai hình thức: nuôi bể xi măng trong nhà với quy mô hiện đại khép kín có hệ thống điều chỉnh nhiệt độ, đo độ PH của nước… Đặc biệt, hình thức nuôi này không cho cá chình tiếp xúc với ánh sáng và hình thức nuôi thứ hai là nuôi cá chình trong ao đất truyền thống. Hiện, hình thức nuôi ao đất, Công ty đang nuôi cá chình trên diện tích 2 ha. Với phương pháp này, cá được nuôi hoàn toàn tự nhiên, tuy chi phí đầu tư thấp, song tỉ lệ hao hụt cao hơn.

Ông Phạm Trường Giang, quản lý trang trại của Công ty TNHH Việt Tam Nông cho biết, sau 3 năm xây dựng mô hình và thả nuôi, cá chình đã đạt trọng lượng thu hoạch. Thịt cá chình thơm ngon, giàu dinh dưỡng, là loài đặc sản có giá trị kinh tế cao và được ví như “nhân sâm dưới nước”. Tuy nhiên, nuôi cá chình không dễ, bởi thời gian nuôi dài và khá khó chăm sóc.

Hiện nay, khu nuôi cá chình theo hình thức trong bể xi măng trong nhà khép kín, Công ty Việt Tam Nông có một Khu thả cá rộng 1.200m2, gồm: 12 bể, mỗi bể có dung tích 70m3; chất lượng nước trong hệ thống ao nuôi thâm canh cá chình luôn phải bảo đảm đạt tiêu chuẩn về kỹ thuật (cá sống hoàn toàn bằng nguồn nước tự nhiên được khai thác từ nước mặt của hồ Sông Hỏa); con giống, thức ăn và chất lượng nước với các yếu tố vật lý, hóa học và thủy sinh vật thuận lợi và luôn ổn định.

Với 12 bể nuôi cá chình này, con giống được Công ty TNHH Việt Tam Nông lựa chọn kỹ càng từ nơi cung cấp, đưa về và áp dụng khoa học kỹ thuật nuôi để mang lại tỷ lệ sống cao.

Với lần nuôi thử nghiệm đầu tiên, Công ty TNHH Việt Tam Nông tiến hành nuôi 54.000 con; trong đó, công ty đầu tư 48.000 con và được Nhà nước hỗ trợ 6.000 con. Cá lớn sẽ được tách 1 tháng/lần, con nhỏ nuôi riêng để cá đồng đều và chóng lớn… Thời gian đầu, thức ăn chính của cá là bột công nghiệp, khoảng hơn một tháng sau có thể cho ăn cá tạp, tôm tép được cắt nhỏ, phù hợp với trọng lượng của cá.

“Nguồn giống cá chình hiện nay rất hiếm, giá khá cao, nếu nuôi trong bể xi măng sẽ hạn chế tối đa thất thoát, tỷ lệ thành công đạt khoảng 90%. Bên cạnh đó, hình thức nuôi này phù hợp với đặc tính ưa tối của cá chình. Tuy nhiên, hình thức này đòi hỏi chi phí đầu tư cao, việc xây dựng hệ thống nước ngầm cần thực hiện bài bản và khoa học”, ông Phạm Trường Giang cho hay.

Theo tính toán cho thấy, sau chu kỳ nuôi từ 20-24 tháng, năng suất đạt khoảng từ 20-22 tấn/ha, tỷ suất lợi nhuận dự kiến có thể đạt 30-40%. Hiện Công ty TNHH Việt Tam Nông đã bắt đầu thu hoạch loại cá đạt trọng lượng 1kg/con. Với giá bán từ 520-550 ngàn đồng/kg, sau khi trừ chi phí, Công ty thu lãi 100.000 đồng/con. Cá chình hoa chủ yếu cung cấp cho các nhà hàng, khách sạn, khu du lịch trong địa bàn tỉnh.

Theo đánh giá của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, cá chình là loài thủy sản có giá trị kinh tế cao, đầu ra ổn định. Thành công bước đầu của 2 mô hình nuôi cá chình kể trên có thể mở hướng cho người nông dân trên địa bàn tỉnh nuôi cá theo tiêu chuẩn an toàn, bền vững, từng bước xây dựng thương hiệu cho cá chình của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.


Hoàng Nhị

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.