Phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Đồng bằng sông Cửu Long (Bài cuối)

Những sản phẩm thổ cẩm do nghệ nhân Neàng Samon (ấp Srây Skốth, xã Văn Giáo) làm ra luôn có hoa văn, màu sắc rất đẹp với độ khó trong phối màu, bắt chỉ chưa ai có thể làm theo được. Ảnh: Công Mạo-TTXVN
Những sản phẩm thổ cẩm do nghệ nhân Neàng Samon (ấp Srây Skốth, xã Văn Giáo) làm ra luôn có hoa văn, màu sắc rất đẹp với độ khó trong phối màu, bắt chỉ chưa ai có thể làm theo được. Ảnh: Công Mạo-TTXVN

Bài 2 (Bài cuối): Khơi thông điểm nghẽn

Để tạo bứt phá trong việc phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long cần nhận diện đúng những điểm nghẽn đang gặp phải và đưa ra những giải pháp phù hợp để giải quyết những điểm nghẽn này; trong đó, những giải pháp lãnh đạo các địa phương phải đặc biệt chú ý là đầu tư hạ tầng thiết yếu, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất và giảm nghèo bền vững.

Phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Đồng bằng sông Cửu Long (Bài cuối) ảnh 1Thổ cẩm - lụa Khmer, hay “Khmer Silk” là một sản phẩm đặc trưng của người Khmer An Giang từ hàng trăm năm nay. Trải qua nhiều thăng trầm, có lúc phải tạm dừng hoạt động, nhưng được sự quan tâm, hỗ trợ của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương dưới nhiều hình thức, như: đầu tư khung dệt, đào tạo phát triển nghề, thành lập hợp tác xã,… đến nay, nghề truyền thống dệt thổ cẩm của đồng bào Khmer xã Văn Giáo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang đã “hồi sinh” trở lại. Khmer Silk với nhiều sản phẩm độc đáo phục vụ khách du lịch trong, ngoài nước, thậm chí còn vươn ra thị trường quốc tế; góp phần khôi phục và phát triển nghề truyền thống, tạo thêm thu nhập cho lao động nông thôn, giúp xóa đói giảm nghèo tại địa phương. Trong ảnh: Những sản phẩm thổ cẩm do nghệ nhân Neàng Samon (ấp Srây Skốth, xã Văn Giáo) làm ra luôn có hoa văn, màu sắc rất đẹp với độ khó trong phối màu, bắt chỉ chưa ai có thể làm theo được. Ảnh: Công Mạo-TTXVN

Đầu tư hạ tầng thiết yếu

Sóc Trăng phấn đấu đến năm 2025 có 100% xã, phường, thị trấn vùng đồng bào dân tộc có đường ô tô đến trung tâm xã được nâng cấp nhựa hóa hoặc bê tông hóa; 90% đường giao thông khóm, ấp được cứng hóa; 99% số hộ vùng đồng bào dân tộc thiểu số được sử dụng điện lưới quốc gia và các nguồn điện phù hợp khác; 100% đồng bào dân tộc thiểu số sử dụng các dịch vụ viễn thông, tiếp cận thông tin và phương tiện nghe, nhìn; giải quyết trên 90% tình trạng thiếu đất ở, nhà ở cho hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số.

Để đạt được điều này, theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng Huỳnh Thị Diễm Ngọc, tỉnh tiếp tục đầu tư xây dựng, cải tạo các công trình giao thông nông thôn, chợ phục vụ sản xuất, kinh doanh và dân sinh; duy tu, bảo dưỡng công trình cơ sở hạ tầng trên địa bàn đặc biệt khó khăn và công trình cơ sở hạ tầng các địa phương đã đầu từ giai đoạn trước, tạo điều kiện cho vùng dân tộc thiểu số giao thương thuận lợi, phát triển kinh tế.

Cùng đó, tỉnh đã kiến nghị Ủy ban Dân tộc xem xét, đề xuất chuyển nguồn vốn phân bổ cho Dự án 1 về hỗ trợ đất ở, nhà ở, đất sản xuất sang nguồn vốn sự nghiệp. Riêng nguồn vốn đã phân bổ cho Dự án 1, kiến nghị xem xét chuyển nguồn bổ sung cho Dự án 4 (đầu tư cơ sở hạ tầng) thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tỉnh cũng kiến nghị Ủy ban Dân tộc phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tham mưu Thủ tướng Chính phủ xem xét đối với các xã khu vực III được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới tiếp tục được đầu tư 1 năm tiếp theo, tạo điều kiện hỗ trợ cho các xã nâng cấp, xây dựng và hoàn thiện một số công trình cơ sở hạ tầng…

Năm 2023, tỉnh Trà Vinh bố trí tổng nguồn vốn gần 626 tỷ đồng để thực hiện các dự án nâng cao mức sống cho đồng bào dân tộc thiểu số địa phương, chủ yếu là dân tộc Khmer. Tỉnh xây dựng mới gần 60 công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu, phục vụ sản xuất, đời sống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tiếp tục thực hiện 16 công trình chuyển tiếp của năm 2022; duy tu, bảo dưỡng khoảng 40 công trình; đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp 6 công trình chợ vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Giai đoạn 2021 – 2025, An Giang đầu tư gần 600 tỷ đồng để phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; trong đó, tỉnh bố trí trên 100 tỷ đồng để đầu tư, xây dựng gần 60 công trình, cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã, ấp đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Ứng dụng khoa học công nghệ

Tại Hội nghị Giao ban Khoa học và Công nghệ vùng Đồng bằng sông Cửu Long lần XXVI do Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức tại Sóc Trăng vừa qua, theo Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Bùi Thế Duy, thể mạnh của vùng Đồng bằng sông Cửu Long chủ yếu là nông nghiệp và thuỷ sản. Do đó, để phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc, các Sở Khoa học và Công nghệ cần tăng cường hơn nữa vai trò tham mưu cho UBND các tỉnh, thành phố trong việc ứng dụng khoa học công nghệ vào các dự án, mô hình sản xuất nhằm phát huy tối đa các lĩnh vực là thế mạnh của các địa phương. Việc xây dựng dự án, mô hình sản xuất ứng dụng khoa học công nghệ phải chủ động từ khâu sản xuất giống, vùng nguyên liệu, chế biến ra sản phẩm cuối cùng và phải gắn với thị trường tiêu thụ nhằm ổn định sản xuất.

Ông Trần Thế Duy nhấn mạnh, trong lĩnh vực nông nghiệp, thuỷ sản, ngành khoa học và công nghệ Đồng bằng sông Cửu Long cần đẩy mạnh đầu tư ứng dụng và nhân rộng các mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đặc biệt là vùng không chủ động được nguồn nước và thường xuyên xảy ra hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn sang phát triển nông nghiệp đa dạng (gồm thủy sản – cây ăn quả – lúa), đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu.

Trên thực tế, tại Trà Vinh, ngành Nông nghiệp tỉnh đang tập trung triển khai nguồn vốn khoảng 368 tỷ đồng từ ngân sách để hỗ trợ hộ nông dân, tổ hợp tác, hợp tác xã chuyển đổi đất nông nghiệp kém hiệu quả sang các mô hình sản xuất mới theo hướng tiên tiến, nâng cao chuỗi giá trị sản phẩm và đảm bảo tính bền vững.

Các mô hình chuyển đổi sản xuất đều khuyến khích nông dân ứng dụng kỹ thuật, công nghệ, như: sử dụng phân bón thông minh (Nano); hệ thống quan trắc – điện toán đám mây; hệ thống tưới tự động, bẫy côn trùng thông minh và dự báo sâu bệnh; sử dụng cây giống sạch bệnh, nuôi cấy mô, cây phôi; sử dụng công nghệ nhà lưới, thủy canh đạt tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP…

Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh đang triển khai hoạt động nghiên cứu và ứng dụng khoa học – công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp giai đoạn 2022 – 2025, với nguồn kinh phí 150 – 200 tỷ đồng. Sở sẽ thực hiện khoảng 120 đề tài, dự án nghiên cứu và các mô hình sản xuất ứng dụng khoa học – công nghệ.

Đối với sản xuất lúa, Tiến sĩ Dương Hoàng Sơn (Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long) khẳng định ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong phát triển lúa gạo chất lượng cao hiện nay là điều cực kỳ quan trọng.Đơn vị đã chọn tạo ra trên 160 giống lúa mới, hơn 20 quy trình được công nhận tiến bộ kỹ thuật mới; ký hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu, ủy quyền sản xuất kinh doanh khoảng 30 giống lúa cho các doanh nghiệp và chuyển giao quyền sử dụng chung giống lúa OM cho gần 60 đơn vị là doanh nghiệp, trung tâm giống các tỉnh trong khu vực nhằm thúc đẩy việc mở rộng diện tích sản xuất lúa. Đến nay, diện tích gieo trồng các giống do Viện chọn tạo chiếm 60 – 70% tại đồng bằng sông Cửu Long. Một số giống nổi bật như OM18, OM5451, OM380, OM4900, OM7347, OM6976…

Đặc biệt, riêng với con tôm, Tiến sĩ Lê Anh Xuân – Tổng giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Công nghệ Sinh học Trúc Anh (Bạc Liêu) nhận định việc nghiên cứu, cải tiến và hoàn thiện các quy trình kỹ thuật, xây dựng nhiều mô hình nuôi tôm đạt năng suất cao, giảm rủi ro, giảm chi phí đầu vào và thích ứng với biến đổi khí hậu hiện nay được cho là bài toán hữu ích. Đơn vị đã nghiên cứu và hoàn thiện một số quy trình nuôi hiệu quả đã và đang được chuyển giao đồng hành cùng với nông dân trong vùng và toàn quốc như: Quy trình nuôi tôm Quảng canh cải tiến áp dụng trong mô hình Tôm – Lúa đạt năng suất 500 – 700 kg/ha/năm, Quy trình nuôi tôm sú bằng các chế phẩm sinh học của công ty Trúc Anh; Quy trình nuôi tôm thẻ chân trắng 2 giai đoạn đạt năng suất 30 – 50 tấn/ha/năm… đạt hiệu quả cao và bền vững.

Giảm nghèo bền vững

Năm 2023, Trà Vinh phấn giảm 1% tỷ lệ hộ nghèo vùng dân tộc thiểu số theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia và đưa 2 ấp ra khỏi địa bàn đặc biệt khó khăn. Để thực hiện mục tiêu này, tỉnh đang giải ngân nguồn vốn trên 80 tỷ đồng để phân bổ cho các địa phương. Cùng đó, các địa phương tổ chức rà soát, lập danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo dự kiến thoát nghèo trong năm theo chỉ tiêu giao, trong đó, rà soát, xác định kỹ nguyên nhân nghèo và mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản của từng gia đình để xây dựng kế hoạch hỗ trợ phù hợp.

Trà Vinh còn huy động tối đa các nguồn lực xã hội, lồng ghép nhiều chương trình, dự án, các chính sách khác để hỗ trợ người nghèo cải thiện sinh kế, nâng cao mức sống như: Giải ngân các gói vay ưu đãi cho các hộ nghèo, học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn; giải ngân thực hiện các công trình nước sạch, vệ sinh môi trường; hỗ trợ vốn giải quyết việc làm cho hộ nghèo; sử dụng Quỹ an sinh xã hội hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, hộ cận nghèo…

Hiện nay, tổng hộ nghèo Khmer tại Sóc Trăng còn trên 7.100 hộ, hộ nghèo người Hoa còn 345 hộ. Tỉnh phấn đấu giảm hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số hàng năm từ 3 – 4%. Giai đoạn 2021 – 2023, địa phương được phân bổ nguồn vốn hơn 126 tỷ đồng để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo. Tỉnh cũng bố trí vốn đối ứng hơn 12 tỷ đồng và huy động các nguồn lực khác từ người dân. Ngoài ra, Sóc Trăng tập trung xây dựng các dự án phát triển kinh tế giai đoạn 2023 – 2025 có sử dụng ngân sách địa phương đối ứng để thực hiện chính sách tín dụng, hỗ trợ tín dụng cho từng đối tượng, lĩnh vực, nội dung hoạt động thuộc từng chương trình mục tiêu quốc gia.

Đối với việc giảm nghèo thông qua du lịch đối với hộ dân tộc thiểu số tỉnh An Giang, bà Lê Thị Tú Quyên (Đại học Cần Thơ) cho rằng hoạt động du lịch góp phần tác động giảm nghèo trên các phương diện kinh tế, tiếp cận các dịch vụ xã hội và sinh kế, văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống của hộ dân tộc thiểu số.

Để nâng cao công tác giảm nghèo dựa vào du lịch, An Giang phải giải quyết được việc làm cho lao động tại địa phương, từ đó giúp họ ổn định cuộc sống, tạo ra nguồn thu nhập, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội. Đổi mới công tác đào tạo nghề, không chỉ số lượng mà còn chất lượng. Nâng cao năng lực sản xuất cho lao động người dân tộc thiểu số, đặc biệt là lĩnh vực du lịch. Khuyến khích các dự án khởi nghiệp, xây dựng mô hình giảm nghèo gắn với lợi thế của địa phương. Hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ người lao động dân tộc thiểu số tìm kiếm việc làm, đặc biệt là trong lĩnh vực dịch vụ – du lịch.

Cũng theo bà Lê Thị Tú Quyên, An Giang cần có chính sách đãi ngộ và hỗ trợ thuế cho danh nghiệp khi đến đầu tư và phát triển du lịch ở vùng dân tộc thiểu số vì khi danh nghiệp đến đầu tư sẽ tạo nhiều cơ hội việc làm cho hộ dân tộc thiểu số, đồng thời mở rộng thị trường, giúp hộ dân tộc thiểu số tiếp cận thị trường và mở ra cơ hội phát triển kinh tế cho vùng dân tộc thiểu số khi có nhiều du khách đến và biết về địa phương… (Hết)

Nhật Bình

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.