Quảng Trị: 'Lá chắn xanh' nơi đại ngàn Trường Sơn

Đồn Biên phòng Làng Mô, Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Trị đứng chân trên địa bàn biên giới xã Trường Sơn, có nhiệm vụ quản lý, bảo vệ 43,928km đường biên giới quốc gia và 16 cột mốc quốc giới, phụ trách địa bàn biên giới xã Trường Sơn với 9 thôn, 19 bản, 2.156 hộ/8.484 khẩu, trong đó 1.043 hộ/4.292 là người dân tộc Bru - Vân Kiều.

Với nghĩa tình quân - dân thắm thiết, Đồn Biên phòng Làng Mô đã xây dựng 75 nhà cho hộ nghèo, gia đình chính sách và 8 “Nhà tình nghĩa”, 100 nhà trong phong trào “Xóa nhà tạm, nhà dột nát” trên địa bàn xã Trường Sơn. Ảnh: Võ Dung/TTXVN

Với nghĩa tình quân - dân thắm thiết, Đồn Biên phòng Làng Mô đã xây dựng 75 nhà cho hộ nghèo, gia đình chính sách và 8 “Nhà tình nghĩa”, 100 nhà trong phong trào “Xóa nhà tạm, nhà dột nát” trên địa bàn xã Trường Sơn. Ảnh: Võ Dung/TTXVN

Giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, những bản làng, thôn xóm, nếp nhà vùng cao biên giới xã Trường Sơn đang ngày càng “thay da đổi thịt”, khoác lên mình tấm áo mới ấm no, tươi đẹp hơn. Trong thành quả “ngọt ngào” ấy ghi dấu đậm nét những đóng góp bền bỉ, lặng thầm và nghĩa tình của những người lính “quân hàm xanh” Đồn Biên phòng Làng Mô với đồng bào vùng biên. Họ không chỉ là những “lá chắn xanh” giữ vững biên cương mà còn luôn sát cánh cùng người dân vượt qua gian khó, hỗ trợ đồng bào phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo.

lang-mo4-020326.jpg
Với nghĩa tình quân - dân thắm thiết, Đồn Biên phòng Làng Mô đã xây dựng 75 nhà cho hộ nghèo, gia đình chính sách và 8 “Nhà tình nghĩa”, 100 nhà trong phong trào “Xóa nhà tạm, nhà dột nát” trên địa bàn xã Trường Sơn. Ảnh: Võ Dung/TTXVN
lang-mo2-020326.jpg
Những ngôi nhà mới kiên cố giúp đồng bào vùng biên an cư lạc nghiệp, xây dựng cuộc sống mới ấm no, tốt đẹp hơn. Ảnh: TTXVN phát
lang-mo3-020326.jpg
Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Làng Mô trực tiếp tham gia ngày công giúp đỡ bà con biên giới. Ảnh: TTXVN phát
lang-mo5-020326.jpg
Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Làng Mô hỗ trợ người dân dựng nhà mới. Ảnh: Võ Dung/TTXVN
lang-mo6-020326.jpg
Lực lượng Bộ đội Biên phòng trên địa bàn biên giới xã Trường Sơn (Quảng Trị) vừa vững tay súng bảo vệ biên cương, vừa tích cực tham gia hỗ trợ nhân dân phát triển kinh tế. Ảnh: Võ Dung/TTXVN
lang-mo7-020326.jpg
Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Làng Mô hỗ trợ bà con biên giới thu hoạch lạc. Ảnh: Võ Dung/TTXVN
lang-mo8-020326.jpg
Những người lính biên phòng đã biến những vùng đất khô cằn thành khu vườn xanh mướt và là nơi an cư lạc nghiệp cho đồng bào biên giới xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị. Ảnh: TTXVN phát
lang-mo9-020326.jpg
Giai đoạn 2015-2025, Đồn Biên phòng Làng Mô đã xây dựng 16 công trình “Ánh sáng vùng biên”, 135 công trình “Vệ sinh vì cộng đồng”, 7 mô hình “Truyền thanh bản xa”, hỗ trợ hơn 50 máy nông nghiệp trong mô hình “Tiếng máy vùng biên”, với tổng trị giá hơn 3 tỷ đồng. Ảnh: TTXVN phát
lang-mo10-020326.jpg
Đồn Biên phòng Làng Mô đã trao tặng 26 mô hình sinh kế, 4 mô hình “Vườn rau sạch”, 16 công trình nước sạch cho đồng bào biên giới xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị, giai đoạn 2015-2025. Ảnh: TTXVN phát
lang-mo11-020326.jpg
Nghĩa tình quân - dân gắn bó bền chặt nơi đại ngàn Trường Sơn. Ảnh: TTXVN phát
Võ Dung/TTXVN
Dân tộc Bru-Vân Kiều

Tên tự gọi: Có người cho Bru là tên tự gọi

Tên gọi khác: Bru, Vân Kiều.

Nhóm địa phương: Vân Kiều, Trì, Khùa, Ma Coong.

Dân số: 74.506 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn- Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần gũi với tiếng Tà Ôi, Cơ Tu. Chữ viết mới hình thành theo cách phiên âm bằng chữ cái Latinh. Giữa các nhóm có một số từ vựng không giống nhau.

Lịch sử: Họ thuộc số dân cư được coi là có nguồn gốc lâu đời nhất ở vùng Trường Sơn.

Hoạt động sản xuất: Canh tác rẫy, trồng lúa là chính; nông cụ đơn giản: rìu, dao quắm, gậy trỉa, cái nạo cỏ có lưỡi cong. Cách thức sản xuất: phát rừng, đốt, rồi chọc lỗ gieo hạt giống, làm cỏ, tuốt lúa bằng tay; đa canh - xen canh trên từng đám rẫy kéo dài hàng năm từ tháng 3 đến tháng 10. Ngoài trồng các giống lúa tẻ, nếp, còn trồng sắn, bầu, chuối, cà, dứa, khoai mía v.v... Rừng và sông suối cung cấp nhiều thức ăn cùng nguồn lợi khác. Chăn nuôi trâu (về sau có cả bò), lợn, gà, chó là phổ biến.

Nghề thủ công không phát triển. Quan hệ trao đổi hàng hoá chủ yếu với người Việt và người Lào.

Ăn: Người Bru-Vân Kiều thích các món nướng. Canh thường nấu lẫn rau với gạo và cá hoặc ếch nhái. Họ ăn cơm tẻ thường ngày; khi lễ hội, cơm nếp nấu trong ống tre tươi; quen ăn bốc, uống nước lã, rượu cần (nay rượu cất là thông dụng). Nam nữ đều hút thuốc lá, tẩu bằng đất nung hoặc làm từ cây le.

Mặc: Theo phong tục, nam đóng khố, nữ mặc váy, còn áo không có tay, mặc chui đầu. Vải chủ yếu mua ở Lào. Y phục kiểu người Việt thời nay đã trở thành phổ biến, tập quán mặc váy vẫn được bảo lưu. Trước kia thường dùng vỏ cây rừng đập dập lấy xơ để che thân. Ðồ trang sức thường đeo là các loại vòng ở cổ, tay, khuyên tai. Xưa đàn ông, đàn bà đều búi tóc, riêng thanh nữ búi lệch tóc về phía bên trái, khi đã có chồng tóc được búi trên đỉnh đầu.

Ở: Người Bru-Vân Kiều sống ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên thuộc miền tây các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên- Huế, Quảng Bình. Mỗi làng là một điểm cư trú quần tụ. Mỗi gia đình có nhà riêng, ở nhà sàn, bếp lửa bố trí ngay trên sàn nhà, kiêng nằm ngang sàn. Nhóm Trì, Khùa, Ma Coong nhà thường ngăn thành buồng làm chỗ ngủ riêng cho vợ chồng gia chủ, cho bố mẹ già (nếu có), cho con đã lớn.

Phương tiện vận chuyển: Người Bru-Vân Kiều dùng các loại gùi, đeo gùi sau lưng, 2 quai gùi quàng vào đôi vai. Chiếc gùi gắn bó khăng khít với mỗi người như hình với bóng, là vật dụng vận tải đa năng.

Quan hệ xã hội: Dân làng thuộc các dòng họ khác nhau, cùng sinh sống trên một địa vực, trong đó đất trồng trọt thuộc về từng gia đình, kể cả khi bỏ hoá. Người "già làng" có vai trò quan trọng đối với đời sống của làng. Sự giàu-nghèo hình thành, nhưng hầu hết các hộ trong làng tương đối khác biệt nhau. Tài sản được xác định bằng chiêng, cồng, ché, nồi đồng, trâu v.v...

Hiện tượng người bóc lột người không phổ biến.

Cưới xin: Cô dâu về ở đằng nhà chồng, nhà trai tổ chức cưới vợ cho con và phải biếu đồ sính lễ cho nhà gái, trong đó có thanh kiếm và thường cả chiếc nồi đồng nữa. Sau lễ cưới, đôi vợ chồng còn phải làm "lễ cưới" lần thứ 2 khi có điều kiện về kinh tế, gọi là lễ Khơi, để người vợ chính thức được coi là thành viên dòng họ nhà chồng.

Theo tục lệ, việc con trai cô lấy con gái cậu được khuyến khích, việc kết hôn giữa vợ goá với anh hoặc em chồng cũng như giữa chồng goá với chị hoặc em vợ đều được chấp thuận và khi dòng họ A đã gả con gái cho dòng họ B thì dòng họ B không gả con gái cho dòng họ A nữa.

Sinh đẻ: Phụ nữ khi mang thai kiêng ăn thịt các con vật sa bẫy, không bước qua cây nằm ngang đường v.v... Họ đẻ con tại nhà, có bà mụ vườn đỡ đẻ. Trẻ sơ sinh được đặt tên sau vai ba tháng, phải tránh trùng với tên của người đã khuất trong dòng họ, nhưng thường các tên trong nhà được đặt cùng vần nhau.

Ma chay: Tử thi ở nhóm Vân Kiều được đặt năm ngang sàn nhà, chân hướng về phía cửa sổ, ở các nhóm Khùa và Ma Coong thì tử thi được đặt dọc sàn, chân hướng về phía cửa chính. Sau 2-3 ngày mới đưa ma, chôn người chết vào bãi mộ chung của làng.

Quan tài gỗ đẽo độc mộc, gồm hòm và nắp; xưa kia có nơi người chết được bó trong vỏ cây hoặc tấm đan bằng giang, nứa. Chọn đất đào huyệt theo cách dùng trứng gà thả rơi, vỡ trứng là được. Tang gia trước khi mai táng mỗi ngày cúng cơm đặt thức ăn vào miệng tử thi 3 lần (sáng, trưa, tối), khi chôn cất phải dành phần cho người chết nhiều thứ từ đồ mặc đến vật dụng thông thường và cả giống mía, ngô, khoai môn, v.v...

Thờ cúng: Người Bru-Vân Kiều chú trọng thờ cúng tổ tiên. Theo họ, hiện thân của "linh hồn" các thân nhân quá cố là những mảnh nồi, mảnh bát v.v... đặt trong chòi nhỏ dựng riêng. Có nơi thờ cúng cả thần bản mệnh: mỗi người trong gia đình có một chiếc bát đặt chung trên bàn thờ tại nhà. Người ta rất tin và các "thần linh" (Yang): thần lúa, thần bếp lửa, thần núi, thần đất, thần sông nước v.v... Ma gia đình đằng vợ (Yang cu gia) cũng được con rể thờ cúng.

Lễ tết: Người Bru-Vân Kiều có nhiều lễ cúng khác nhau trong quá trình canh tác lúa rẫy nhằm cầu mùa, gắn với các khâu, phát, trỉa và thu hoạch. Ðặc biệt lễ thức trước dịp trỉa lúa diễn ra như một ngày hội của dân làng. Trong một đời người, mỗi người cũng có hàng loạt nghi lễ cúng quải về bản thân mình: khi ra đời, lúc đau ốm, khi qua đời, lúc thành hôn v.v... Lễ cúng có đâm trâu là lễ trọng nhất. Tết đến từng làng sớm muộn khác nhau, nhưng đều vào thời gian sau kỳ tuốt lúa.

Lịch: Họ căn cứ vào mặt trăng để định ra các ngày và tên ngày trong tháng. Quan niệm có những ngày tốt (nhất là mùng 4, 7, 9) và những ngày xấu (nhất là 30 và mùng 1). Mỗi năm, lịch nông nghiệp Bru-Vân Kiều gồm 10 tháng, tiếp đến thời kỳ nghỉ ngơi, chơi bời trước khi bước vào mùa rẫy mới.

Văn nghệ: Người Bru-Vân Kiều có nhiều truyện cổ được truyền miệng, kể về sự tích các dòng họ, nguồn gốc dân tộc, về đề tài người mồ côi v.v... Có các điệu hát như: Oát là loại hát đối đáp giao duyên. Prdoak là hát chúc vui, chúc tụng khi có việc mừng. Xươt là hát vui trong các sinh hoạt vui đùa đông người. Roai tol, Roai trong là loại hát kể lể nặng nề, oán trách. Adâng kon là hát ru trẻ con. Trong đám ma và lễ hội đâm trâu thường có múa kết hợp với hát. Nhạc cụ phổ biến là: cồng, chiêng, đàn Achung, Plư, Ta-lư, kèn Amam, Ta-ral, khèn Pi, nhị, đàn môi, trống, sáo...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Bru-Vân Kiều

Có thể bạn quan tâm

Tạo sinh kế, mở lối thoát nghèo ở vùng cao Huế

Tạo sinh kế, mở lối thoát nghèo ở vùng cao Huế

Những năm qua, trên các bản làng vùng cao của xứ Huế, nhiều mô hình hỗ trợ giảm nghèo đã và đang gieo những mầm xanh hy vọng. Những chính sách thiết thực ấy đã trở thành điểm tựa vững chắc tiếp thêm nghị lực để đồng bào dân tộc thiểu số vượt qua gian khó, tự tay gây dựng sinh kế và tự tin mở ra con đường thoát nghèo bền vững.

Ẩm thực mở lối kết nối du lịch

Ẩm thực mở lối kết nối du lịch

Từ những món ăn gắn với đời sống đồng bào đến các sản vật mang dấu ấn vùng miền, Tuyên Quang đang hướng tới khai thác giá trị văn hóa ẩm thực để làm phong phú trải nghiệm và tăng sức hấp dẫn của điểm đến.

Thắm tình quân - dân vùng cao biên giới

Thắm tình quân - dân vùng cao biên giới

Ngày 28/10, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Thanh Hóa tổ chức khánh thành Khu văn hóa - thể thao “Thắm tình quân - dân”, mô hình “Dân vận khéo” tại bản Muống, xã vùng cao biên giới Sơn Thủy. 

Đánh thức tiềm năng du lịch cộng đồng tại các buôn làng Tây Nguyên

Đánh thức tiềm năng du lịch cộng đồng tại các buôn làng Tây Nguyên

Phát triển du lịch cộng đồng tại các buôn làng dân tộc M’Nông ở Tây Nguyên giữ vai trò thiết yếu trong việc cải thiện sinh kế người dân và bảo tồn bản sắc văn hóa bản địa. Mặc dù đã đạt được những bước tiến tích cực ban đầu, song thực tế vẫn tồn tại nhiều khó khăn, thách thức.

Đưa tri thức số lên đỉnh Ngọc Linh

Đưa tri thức số lên đỉnh Ngọc Linh

Giữa đại ngàn Ngọc Linh, xã Trà Linh, thành phố Đà Nẵng, học sinh dân tộc Xơ Đăng đang từng bước tiếp cận máy tính, internet và những bài học trực quan.

Sức sống mới trên vùng đất tái định cư

Sức sống mới trên vùng đất tái định cư

Gần 20 năm trước, từ cuối năm 2007, để phục vụ dự án Nhà máy thủy điện Sơn La - công trình trọng điểm quốc gia, hàng trăm hộ dân xã Mường Chiên, huyện Quỳnh Nhai (cũ), tỉnh Sơn La đã nhường đất, rời nơi chôn rau cắt rốn, chuyển đến các điểm tái định cư mới trên địa bàn xã Bình Thuận.

Nét đẹp Lễ cúng máng nước của đồng bào M’Nông

Nét đẹp Lễ cúng máng nước của đồng bào M’Nông

Gắn liền với đời sống sinh hoạt, sản xuất và tín ngưỡng của đồng bào M’Nông, Lễ cúng máng nước là nét đẹp văn hóa truyền thống, thể hiện lòng biết ơn thiên nhiên và ước vọng về cuộc sống bình an, no ấm. Nghi lễ vừa được phục dựng tại thôn Tak Xoai, xã Trà Leng, thành phố Đà Nẵng, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa, đồng thời nâng cao ý thức bảo vệ nguồn nước và môi trường sinh thái.

Mùa lúa chín – Mùa lễ hội giữa Đại ngàn

Mùa lúa chín – Mùa lễ hội giữa Đại ngàn

Cuối tháng 10, khi những cánh đồng lúa ở khu vực phía Tây tỉnh Quảng Ngãi bắt đầu ngả sang màu vàng, cũng là thời điểm bước vào mùa lễ hội của đồng bào dân tộc thiểu số Xơ Đăng, Bahnar. Với bà con Bahnar nhánh Giơ Lâng là Lễ Ét Đông (Lễ ăn con dúi), còn với bà con Xơ Đăng là Lễ Mừng lúa mới được tổ chức với cùng mong muốn và tạ ơn trời đất cho một vụ mùa bội thu, mang lại sự ấm cúng, bình yên cho dân làng. Những nét văn hóa đặc sắc trong mùa lễ hội của đồng bào Xơ Đăng, Bahnar nơi đây đã cùng vẽ nên “bức tranh” đầy màu sắc của cộng đồng các dân tộc giữa đại ngàn Tây Nguyên.

Ấm tình đồng đội nơi cao nguyên đá Đồng Văn

Ấm tình đồng đội nơi cao nguyên đá Đồng Văn

Giữa những dãy núi đá tai mèo trùng điệp nơi cao nguyên đá Đồng Văn (Tuyên Quang), tình đồng đội vẫn bền chặt theo năm tháng, tiếp tục được nối dài qua những việc làm thiết thực khi người lính trở về với cuộc sống đời thường. Bằng những việc làm thiết thực, cán bộ, nhân viên Ban Chỉ huy Quân sự xã Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang đang tiếp thêm động lực cho quân nhân xuất ngũ phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống, góp phần tô thắm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân.

Giữ an toàn trên những cung đường mùa hoa tam giác mạch

Giữ an toàn trên những cung đường mùa hoa tam giác mạch

Những ngày cuối tháng 10, khi sắc hồng của hoa tam giác mạch bắt đầu trải dài trên những triền núi đá, các cung đường từ hai phường Hà Giang lên Cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang trở nên nhộn nhịp bởi dòng người và phương tiện đến tham quan, trải nghiệm.