Quy hoạch tốt để người dân phát triển sinh kế từ rừng

Rừng phòng hộ ven biển Thuận Nam (Thuận Nam, Ninh Thuận) tạo thành lá chắn giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu. Ảnh: Nguyễn Thành –TTXVN
Rừng phòng hộ ven biển Thuận Nam (Thuận Nam, Ninh Thuận) tạo thành lá chắn giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu. Ảnh: Nguyễn Thành –TTXVN

Trên cơ sở quy hoạch 3 loại rừng (rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất), giai đoạn 2016 - 2025, tỉnh Ninh Thuận đã phát triển dịch vụ môi trường rừng, đa dạng hóa và mở rộng các nguồn thu phù hợp với quy định của pháp luật, góp phần tạo thu nhập, tạo sinh kế cho các hộ gia đình tham gia quản lý, bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, an ninh nguồn nước, giảm nhẹ thiên tai, ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.

Quy hoạch tốt để người dân phát triển sinh kế từ rừng ảnh 1Rừng phòng hộ ven biển Thuận Nam (Thuận Nam, Ninh Thuận) tạo thành lá chắn giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu. Ảnh: Nguyễn Thành –TTXVN

Cải thiện sinh kế người dân

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Ninh Thuận, tổng diện tích đất có rừng của tỉnh giai đoạn 2016 - 2025 là trên 139.325 ha; trong đó rừng tự nhiên gần 132.000 ha, rừng trồng trên 7.300 ha. Năm 2017, tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 43/2017/NQ-HĐND ngày 11/12/2017 phê duyệt quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Ninh Thuận, giai đoạn 2016 - 2025 gắn với phát triển dịch vụ môi trường rừng.

Ông Trần Ngọc Hiếu, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Ninh Thuận cho biết, thông qua việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, trong giai đoạn 2016 - 2022, tổng nguồn thu từ các đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng gồm: Cơ sở sản xuất thủy điện; cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch; cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch… chi trả trên 57,9 tỷ đồng.

Qua nguồn thu này, các đơn vi có liên quan đã thực hiện chi trả tiền giao khoán bảo vệ rừng cho các tổ chức, hộ gia đình. Trung bình diện tích mỗi hộ dân tham gia nhận khoán bảo vệ rừng trong cộng đồng khoảng 30 ha/năm, thu nhập hằng năm của mỗi hộ từ 10 - 12 triệu đồng. Đồng thời, thông qua việc trích lại tiền thù lao nhận khoán và tiếp cận nguồn vốn vay từ Ngân hàng Chính sách xã hội để thực hiện các mô hình sinh kế, người dân nhận khoán bảo vệ rừng còn có thêm việc làm từ phát triển trồng trọt, chăn nuôi dưới tán rừng.

Cùng với việc tăng hiệu quả sử dụng nguồn vốn, mỗi năm, người dân có thêm thu nhập từ 10 - 18 triệu đồng thông qua bán các sản phẩm làm ra thị trường. Hiện nay, một số sản phẩm nông nghiệp do chính hộ dân nhân khoán bảo vệ rừng làm ra đã tạo thương hiệu trên thị trường như bưởi da xanh, trái cây KrôngPha… Việc duy trì vốn rừng và gia tăng diện tích rừng giúp cung cấp các nguồn lâm sản và các giá trị dịch vụ môi trường rừng ổn định, từng bước phát triển các mô hình, sản phẩm du lịch sinh thái phục vụ du khách, tạo ra cơ hội việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đáng kể điều kiện sống cho người dân địa phương, góp phần giảm nghèo, tăng sự cân đối trong phát triển kinh tế - xã hội giữa nông thôn miền núi và đồng bằng.

Thông qua xã hội hóa và đa dạng hóa các hoạt động lâm nghiệp, kết hợp các chương trình, dự án lâm nghiệp với cải thiện sinh kế của người làm nghề rừng đã góp phần cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập của đồng bào; đặc biệt là giảm thiểu được các tác động tiêu cực của người dân tới việc bảo vệ và phát triển rừng, giảm thiểu các vụ vi phạm pháp luật về lâm nghiệp, bảo vệ sự đa dạng sinh học và nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Giải pháp đồng bộ

Theo đánh giá của UBND tỉnh Ninh Thuận, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng gắn với phát triển sinh kế cho người dân trên địa bàn tỉnh vẫn còn những tồn tại và những khó khăn, thách thức phải đối mặt. Đó là, công tác quản lý thực hiện quy hoạch 3 loại rừng của tỉnh giai đoạn 2016 - 2025 vẫn còn những hạn chế. Việc rà soát tích hợp thông tin về nhu cầu sử dụng rừng, đất rừng để thực hiện các dự án chưa đầy đủ, dẫn đến việc phải liên tục điều chỉnh, tích hợp bổ sung.

Tình hình vi phạm pháp luật về lâm nghiệp đã giảm mạnh so với trước đây nhưng vẫn còn xảy ra, có lúc, có nơi còn diễn biến phức tạp. Công tác kiểm kê, đánh giá hiện trạng rừng còn bất cập, việc cập nhật dữ liệu thông tin biến động về diện tích rừng và đất rừng của các đơn vị quản lý lâm nghiệp chưa kịp thời, dẫn đến tình trạng sai khác giữa hiện trạng thực tế so với hồ sơ quản lý rừng. Đời sống của người dân tham gia quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại vùng miền núi tuy có cải thiện nhưng vẫn còn nhiều khó khăn.

Việc khai thác và sử dụng tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận vẫn chưa đạt hiệu quả theo mục tiêu, kế hoạch đề ra, nhất là tại các dự án liên doanh liên kết phát triển rừng. Công tác lập phương án kế hoạch sử dụng đất lâm nghiệp chuyển ra ngoài 3 loại rừng còn chậm. Công tác phối kết hợp giữa các cơ quan chuyên môn quản lý rừng và chính quyền địa phương tuy đã có những chuyển biến tích cực nhưng hiệu quả chưa cao…

Ông Lê Huyền, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận cho biết, để giải quyết những tồn tại và khó khăn, thách thức trên, tỉnh yêu cầu Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND các huyện… khẩn trương triển khai thực hiện các giải pháp nhằm tích hợp đồng bộ dữ liệu Quy hoạch lâm nghiệp với Quy hoạch tỉnh - Quy hoạch sử dụng đất. Các đơn vị cần nâng cao năng lực quản lý, kiểm tra, giám sát rừng, đất rừng; tăng cường công tác quản lý Nhà nước về lâm nghiệp, quản lý chặt chẽ các loại đất quy hoạch phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất; xây dựng phương án quản lý, sử dụng hiệu quả đất điều chỉnh ra ngoài quy hoạch 3 loại rừng

UBND tỉnh Ninh Thuận tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về lâm nghiệp, nâng cao năng lực thực thi pháp luật; tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát rừng, xây dựng hệ thống quản lý, giám sát rừng thông minh phục vụ chuyển đổi số trong lâm nghiệp; đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị chuyên dùng phục vụ công tác quản lý lâm nghiệp; tăng cường hợp tác đa ngành trong quản lý lâm nghiệp, tài nguyên và môi trường; thu hút nguồn lực đầu tư vào công tác bảo vệ và phát triển rừng.

Đặc biệt, tỉnh sẽ có giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng rừng, đất rừng, nhất là đối với các dự án phát triển lâm nghiệp đang triển khai thiếu hiệu quả và diện tích đất lâm nghiệp đưa ra ngoài 3 loại rừng để tạo thuận lợi phát triển sinh kế cho người dân. Tỉnh sử dụng có hiệu quả nguồn vốn từ các chương trình dự án đầu tư vào lĩnh vực phát triển rừng trên địa bàn tỉnh; đồng thời tăng cường triển khai các hoạt động, dự án có sự tham gia của cộng đồng như: giao khoán bảo vệ rừng gắn với tạo sinh kế bền vững cho người dân; Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2021 - 2025; các chương trình dự án trồng cây phân tán, trồng rừng thay thế; hỗ trợ phát triển các dự án nâng cao sinh kế cho người dân sống gần rừng mà không làm tổn thương nguồn lực rừng...

Tỉnh thực hiện các giải pháp thu hút đầu tư vào công tác bảo vệ, phát triển rừng; nâng cao giá trị cung ứng các loại dịch vụ môi trường rừng đối với các diện tích rừng, chú trọng mở rộng các nguồn cung ứng mới như: Dịch vụ du lịch thông qua việc triển khai hiệu quả đề án du lịch sinh thái đã được phê duyệt và nguồn chi trả dịch vụ "Hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng"; giảm phát thải khí nhà kính từ hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, quản lý rừng bền vững, tăng trưởng xanh"…

Công Thử

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.