Sản xuất lúa, tôm đặc sản cho nông dân Sóc Trăng thu nhập bạc tỷ

Trước những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và thiên tai bất lợi, thời gian gần đây, ngành nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng đã và đang thực hiện mạnh mẽ chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng phát triển xanh, sạch, hữu cơ, an toàn và bền vững. Qua đó, nhiều mô hình sản xuất của nhà nông đã đem lại sản lượng, chất lượng và hiệu quả cao.

vna_potal_lua_he_thu_dau_vu_tai_soc_trang_duoc_gia_135113018_7521777.jpg
Vụ lúa Hè Thu năm 2024, tỉnh Sóc Trăng gieo sạ 140.436 ha. Ảnh: Tuấn Phi-TTXVN

Trồng lúa đặc sản cho lợi nhuận cao

Theo ông Huỳnh Ngọc Nhã, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Sóc Trăng, trong năm 2024, ngành nông nghiệp Sóc Trăng đã và đang triển khai các mô hình sản xuất lúa đặc sản, lúa chất lượng cao theo hướng an toàn, nâng cao chất lượng và giá trị.

Cùng với việc đưa cơ giới, tự động hóa vào kỹ thuật canh tác, gieo trồng, thu hoạch, nhà nông Sóc Trăng cũng đã liên kết sản xuất các giống lúa ST24, ST25, lúa Tài Nguyên cùng một số lúa thơm, lúa đặc sản khác đem lại sản lượng cao, chất lượng tốt và giá lúa cũng cao hơn các giống lúa thường từ vài trăm đồng đến 3.500 đồng/kg, qua đó, có hộ từ trồng lúa đặc sản lợi nhuận đạt 40-50 triệu đồng/ha/vụ.

Chẳng hạn như mô hình trồng lúa đặc sản lúa ST25 của Tổ hợp tác Đông Đầy tại xã Thạnh Thới An, huyện Trần Đề do ông Phạm Văn Đầy làm tổ trưởng. Trong mấy năm gần đây, tổ của ông canh tác theo tiêu chuẩn VietGAP rồi chuyển dần qua canh tác theo hướng hữu cơ, kết quả là liên tục đạt hiệu quả cao.

Theo ông Đầy, tổ hợp tác của ông canh tác lúa theo quy chuẩn hữu cơ đã giúp cho nông dân giảm chi phí đầu tư, tăng lợi nhuận hơn. Trung bình chi phí 1 vụ lúa khoảng 28 triệu đồng/ha, trong khi canh tác theo truyền thống (sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật), chi phí tới 35 triệu đồng/ha. Năng suất lúa hữu cơ bình quân ước đạt 6,5 - 8 tấn/ha, giá lúa được công ty thu mua cao hơn so với bên ngoài khoảng 1.000 đồng/kg. Vụ lúa Hè Thu vừa qua, trên phần ruộng của tổ hợp tác đã thu hoạch giống lúa ST25, năng suất đạt 6,5 tấn/ha, giá lúa được đơn vị bao tiêu là 11.000 đồng/kg, trừ chi phí lợi nhuận của thành viên tổ hợp tác đạt tới trên 50 triệu đồng/ha.

Liên kết sản xuất trồng lúa đặc sản, nhiều hợp tác xã nông nghiệp và hộ nông dân canh tác lúa có diện tích lớn cũng đang áp dụng các mô hình lúa đặc sản, lúa hữu cơ, trong đó có mô hình tôm lúa, còn gọi là lúa thơm-tôm sạch đã được công nhận là sản phẩm đặc sản của địa phương (OCOP 3-4 sao), sản phẩm được tiêu thụ rộng rãi trong thị trường nội địa.

Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Sóc Trăng cũng thông tin, trong tổng diện tích hơn 337.800 ha lúa đã được tỉnh gieo sạ trong năm nay thì diện tích lúa đặc sản, chất lượng cao chiếm 94,53%, cao hơn mức mà Nghị quyết đề ra là 93,37%. Tính theo năm lương thực, năm 2024 này Sóc Trăng đạt sản lượng ước khoảng 2,18 triệu tấn lúa, vượt trên 5% kế hoạch năm của tỉnh.

Nuôi tôm kỹ thuật cao thu nhập bạc tỷ

Bên cạnh cây lúa, những mô hình nuôi thủy sản cũng là thế mạnh và đem lại hiệu quả cao cho nhà nông, được tỉnh Sóc Trăng tập trung phát triển. Để đạt được kết quả tốt, lợi nhuận cao cho người nuôi thủy sản, các hợp tác xã, tổ hợp tác nuôi trồng thủy sản, trang trại nuôi tôm hộ gia đình đã áp dụng những mô hình nuôi tôm hiệu quả được ngành Nông nghiệp tỉnh triển khai như: Nuôi tôm 2 giai đoạn; nuôi tôm sú lót bạt đáy có hố xi phông xử lý chất thải; nuôi tôm tuần hoàn khép kín, ứng dụng công nghệ cao…

Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Sóc Trăng, ông Huỳnh Ngọc Nhã thông tin, hiện nay, tỉnh Sóc Trăng đã thực hiện Đề án phát triển nuôi tôm nước lợ theo hướng bền vững, tập trung, sản xuất sạch, ứng dụng công nghệ cao, công nghệ số và các thành tựu khoa học kỹ thuật mang tính đột phá, thân thiện môi trường, phù hợp với đặc điểm sinh thái từng vùng, phát huy tiềm năng điều kiện tự nhiên về nuôi tôm nước lợ tại từng địa phương, các lợi thế về thị trường…

Tỉnh cũng đang đầu tư phát triển ngành tôm theo hướng tổ chức lại sản xuất theo hướng hợp tác, liên kết các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ để tạo vùng sản xuất nguyên liệu tập trung quy mô lớn, làm đầu mối để liên kết với các doanh nghiệp cung ứng vật tư đầu vào, đầu ra. Phát triển sản xuất gắn chặt với nhu cầu của thị trường tiêu thụ sản phẩm nâng cao chuỗi giá trị.

Từ nguồn lực của ngân sách và xã hội hóa, tỉnh sẽ đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng vùng nuôi tôm nước lợ. Thu hút các thành phần kinh tế tham gia phát triển các ngành nghề và dịch vụ phụ trợ như giống, thức ăn… để tiến tới phát triển quy trình nuôi tôm khép kín, tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống cho người lao động, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Theo kế hoạch, Sóc Trăng phấn đấu đến năm 2025, diện tích thả nuôi tôm của tỉnh đạt 57.000ha, sản lượng đạt 233.800 tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu của tỉnh duy trì đạt trên 1 tỷ USD. Bên cạnh đó, đề án sẽ xây dựng 45 mô hình nuôi tôm thí điểm, thích ứng với biến đổi khí hậu; phấn đấu 100% cơ sở nuôi, hộ nuôi đảm bảo điều kiện về nuôi trồng thủy sản và được cấp mã số ao nuôi đối tượng nuôi chủ lực, đảm bảo việc truy xuất nguồn gốc phục vụ xuất khẩu.

Một trong những mô hình nuôi tôm công nghệ cao có hiệu quả phải kể đến hộ ông Trần Văn Khởi, ở xã Lai Hòa, thị xã Vĩnh Châu (Sóc Trăng). Với 9ha nuôi tôm nước lợ, ông chia thành 26 ao (vuông) nước; trong đó, có ao nuôi, ao dự trữ nước, ao lắng, ao ương dưỡng tôm nhỏ, ao chứa thải... các ao nuôi tôm ông đều cho làm xi phông đáy ao (hố chứa thải để làm vệ sinh đáy ao, hạn chế ô nhiễm nguồn nước nuôi trong ao) và lót bạt bờ xung quanh ao.

Thực hiện mô hình nuôi tôm ao đất có làm xi phông đáy ao, theo ông Khởi, việc nuôi tôm đạt hiệu quả tốt hơn. Để việc hút các chất thải trong ao có hố xi phông đáy, hạn chế ô nhiễm trong ao nuôi, hố xi phông được kết nối bằng ống nhựa với máy hút đặt trên bờ, cứ 5-6 ngày cho máy hút thải ra ngoài ao chứa thải, giúp cải thiện chất lượng nước ao nuôi. Với mô hình này, ông Khởi thả nuôi tôm có mật độ từ 70 - 90 con/m2, nuôi tôm đạt kích cỡ 30 con/kg thì thu hoạch, cỡ size này cho giá cả và lợi nhuận tốt hơn so với với thu hoạch sớm hoăn hoặc trễ hơn. Mỗi ao có diện tích 1.200m2, sản lượng tôm thu về từ 2 - 3 tấn/ao. Tổng sản lượng tôm thẻ chân trắng hằng năm nuôi từ 1 - 2 vụ/9ha, ông thu về 50-60 tấn, trừ chi phí lợi nhuận từ còn 2 đến 4 tỷ đồng/năm.

Theo lãnh đạo UBND tỉnh Sóc Trăng, lĩnh vực nông nghiệp của tỉnh đang phát triển ổn định, đều trên nhiều lĩnh vực như trồng lúa, cấy ăn quả, chăn nuôi gia súc gia cầm và thủy sản. Riêng 2 lĩnh vực trồng lúa và nuôi trồng thủy sản là 2 ngành mũi nhọn đem lại thu nhập cao cho nhà nông và cũng là những sản phẩm đem lại nguồn ngoại tệ lớn, đạt kim ngạch cao nhất của tỉnh; trong đó, xuất khẩu thủy sản 9 tháng năm 2024 của Sóc Trăng đạt 750 triệu USD, tăng 10,7% so với cùng kỳ, trong khi xuất khẩu gạo đã đạt mức kỷ lục với 510 triệu USD, tăng 51,6% so với 9 tháng cùng kỳ năm trước 2023 và hơn cả năm 2023 tới 100 triệu USD (năm 2023 xuất khẩu gạo đạt 410 triệu USD). Đây là những kết quả tích cực của ngành nông nghiệp Sóc Trăng trong thực hiện chuyển đổi cơ cấu, nâng cao giá trị chất lượng cây trồng vật nuôi, hướng tới lợi nhuận, giá trị cao và có tính bền vững.

Trung Hiếu

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.