Thực hiện sắp xếp mạng lưới trường học theo hướng tinh gọn, hiệu quả, Tuyên Quang đứng trước yêu cầu vừa giảm đầu mối quản lý, vừa bảo đảm chất lượng giáo dục và quyền tiếp cận trường lớp của học sinh, nhất là tại các xã vùng cao, biên giới. Với địa bàn rộng, dân cư phân tán, nhiều thôn bản cách xa trung tâm, việc tổ chức lại trường học không thể thực hiện cơ học mà phải tính đến từng khu dân cư, điểm trường và điều kiện đi lại của học sinh.
Linh hoạt giữ điểm trường
Sau sắp xếp, toàn tỉnh giảm từ 1.063 xuống còn 578 cơ sở giáo dục công lập, giảm 485 đầu mối, tương đương 45,6%. Trong đó, trung học cơ sở giảm mạnh nhất với 70% số trường; tiểu học giảm 66,7%; giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp giảm 66,7%; mầm non giảm 50,6%; trung học phổ thông giảm 14,9%; qua đó nhằm tinh gọn bộ máy, giảm chi phí quản lý, tập trung nguồn lực cho chuyên môn; đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng đội ngũ và cơ sở vật chất.
Thực tế tại các xã vùng cao, biên giới cho thấy không thể áp dụng một mô hình duy nhất. Nơi dân cư tập trung, giao thông thuận lợi có thể tổ chức trường quy mô lớn; nơi học sinh phân tán, đường giao thông cách trở cần duy trì điểm trường. Ở những địa bàn phù hợp, trường phổ thông nhiều bậc học được tổ chức giảm đầu mối quản lý, sử dụng chung cơ sở vật chất và thuận lợi điều phối giáo viên.
Lũng Cú là địa bàn thể hiện rõ cách tiếp cận này. Xã có diện tích 95,2 km2; 31km đường biên giới, 16 thôn với hơn 15.000 người thuộc 12 dân tộc cùng sinh sống. Dân cư phân bố không tập trung, nhiều khu vực vùng cao đi lại khó khăn nên việc đưa toàn bộ học sinh về trường trung tâm là không phù hợp. Ông Dương Ngọc Đức, Bí thư Đảng ủy xã Lủng Cú cho biết, sau sắp xếp, địa phương thực hiện hợp nhất về đầu mối quản lý, nhưng không giải thể các điểm trường lẻ. Học sinh ở các thôn xa tiếp tục học tại những điểm trường gần nơi cư trú như: Má Lầu, Má Lủng, Ma Xí, Khai Hoang, Ngài Trồ, Cầu Phìn Lủng, Má Sồ... Việc này không làm tăng khoảng cách đến trường, không phát sinh thêm chi phí đi lại và hạn chế nguy cơ học sinh bỏ học do điều kiện địa hình. Với những nơi khoảng cách quá xa, mô hình bán trú được xem là giải pháp quan trọng. Tại Lũng Cú hiện có 456 học sinh tiểu học và 444 học sinh trung học cơ sở học bán trú. Việc này giúp các em giảm thời gian đi lại, ổn định việc học và góp phần duy trì sĩ số, tỷ lệ chuyên cần.
Tại xã vùng cao Đường Thượng, địa bàn có 100% đồng bào dân tộc Mông, việc sắp xếp được thực hiện theo hướng giữ nguyên bậc mầm non, sáp nhập 2 trường tiểu học và 2 trường trung học cơ sở. Sau hợp nhất, Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Đường Thượng trở thành đầu mối lớn với hơn 100 cán bộ, giáo viên, nhân viên, quy mô khoảng 2.200 học sinh. Ông Nguyễn Bá Tứ, Hiệu trưởng Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Đường Thượng kỳ vọng: “Khi về chung một đầu mối, nhà trường có thể linh hoạt điều tiết, luân chuyển giáo viên, giải quyết hiệu quả bài toán thừa - thiếu, nhất là đối với các môn học đặc thù đang thiếu hiện nay như tiếng Anh, Tin học hay Nghệ thuật. Đây là nền tảng quan trọng để nhà trường nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh vùng cao”.
Với những địa bàn biên giới, trường liên cấp nếu được bố trí phù hợp có thể giảm đầu mối, nhưng vẫn duy trì hệ thống điểm trường vệ tinh, tránh tình trạng “sáp nhập trường” đồng nghĩa với “đưa học sinh đi học xa hơn”.
Đặc điểm chung của các xã biên giới là dân cư phân tán, có những thôn xa trung tâm. Vì vậy, phương án tổ chức phải đặt trong mối quan hệ giữa trường chính, điểm trường, giao thông và quy mô dân số học sinh, thay vì chỉ căn cứ số lớp hoặc số học sinh để quyết định giữ hay chuyển. Nhìn từ thực tế, ba phương thức có thể được vận dụng linh hoạt gồm: giữ điểm trường nơi học sinh không thể đi xa; tổ chức trường liên cấp ở nơi có điều kiện tập trung; phát triển bán trú, nội trú đối với học sinh ở những thôn, bản cách xa trường chính. Mục tiêu là đưa trường học đến gần học sinh hoặc tạo điều kiện để các em có thể ở lại trường an toàn.
Sắp xếp trường lớp gắn với bố trí đội ngũ giáo viên
Giữ được điểm trường chỉ là bước đầu. Vấn đề quan trọng tiếp theo là bảo đảm giáo viên, bởi nếu có lớp học nhưng thiếu người đứng lớp, quyền tiếp cận giáo dục của học sinh vẫn chưa được bảo đảm đầy đủ. Đây là bài toán khó ở vùng cao khi tình trạng thừa, thiếu giáo viên có thể xảy ra cục bộ giữa các trường, bậc học và môn học. Đặc biệt, những môn như tiếng Anh, Tin học, Âm nhạc, Mỹ thuật, Thể dục càng đòi hỏi phương án điều phối linh hoạt.
Ông Bùi Quang Trí, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Tuyên Quang cho biết, đối với giáo dục vùng cao, hiệu quả sắp xếp không chỉ là giảm số trường mà quan trọng là bảo đảm học sinh được học tập thuận lợi, giáo viên đủ và học sinh ở xa được tổ chức bán trú, nội trú phù hợp. Mục tiêu là tinh gọn đầu mối và dành nguồn lực tiết kiệm để đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị và nâng chất lượng giáo dục ở những địa bàn còn khó khăn.
Tại Lũng Cú, đội ngũ giáo viên trực tiếp giảng dạy tiếp tục được giữ ổn định, bố trí theo vị trí việc làm và bậc học. Trường hợp thiếu cục bộ, địa phương có thể điều động, biệt phái hoặc phân công giáo viên dạy liên trường, liên điểm trường. Ông Dương Ngọc Đức, Bí thư Đảng ủy xã Lủng Cú cho hay, cách làm này giúp giải quyết một nghịch lý thường gặp ở vùng khó. Đó là một điểm trường xa có thể không đủ học sinh để bố trí riêng giáo viên từng môn, nhưng học sinh vẫn phải được học đầy đủ chương trình. Khi đó giáo viên được điều phối giữa các điểm trường thay vì để tình trạng thiếu kéo dài.
Cùng với việc tổ chức lại bộ máy, địa phương định hướng giảm lực lượng quản lý, hành chính dùng chung để tập trung nguồn lực cho giáo viên trực tiếp đứng lớp. Các cơ sở vật chất sau sắp xếp tiếp tục được khai thác làm phân hiệu, điểm trường; nguồn lực tiết kiệm được ưu tiên cho những nơi còn thiếu phòng học, nước sạch, thiết bị dạy học, nhà ăn và khu bán trú.
Một mạng lưới trường học hợp lý phải đồng thời thu hẹp ba khoảng cách: từ nhà đến trường, về điều kiện học tập và chất lượng giáo dục. Bởi vậy, hiệu quả sắp xếp mạng lưới trường học ở Tuyên Quang không chỉ được nhìn bằng số đầu mối giảm. Quan trọng hơn là những điểm trường cần thiết được duy trì, học sinh ở thôn xa có điều kiện bán trú, nội trú phù hợp, giáo viên được bố trí đủ, cơ sở vật chất được sử dụng hiệu quả và chất lượng, tỷ lệ chuyên cần được bảo đảm.
Nhìn tổng thể, việc sắp xếp mạng lưới trường học tại Tuyên Quang đang được triển khai theo hướng tinh gọn đầu mối, nhưng linh hoạt theo từng địa bàn, nhất là vùng cao, biên giới. Mục tiêu cuối cùng là sử dụng hiệu quả nguồn lực, nâng chất lượng giáo dục và không để việc sắp xếp làm gia tăng khoảng cách đến trường của học sinh…/.