Tận dụng lợi thế khí hậu mát mẻ, nguồn nước lạnh tự nhiên, người dân xã Cao Bồ (Tuyên Quang) đang từng bước phát triển nghề nuôi cá tầm theo hướng sản xuất hàng hóa, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Đây được xem như hướng đi triển vọng trong chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân vùng cao.
Từ lợi thế nguồn nước đến hiệu quả kinh tế
Theo ông Nguyễn Văn Dương, Chủ tịch UBND xã Cao Bồ, địa phương có lợi thế về khí hậu mát mẻ, địa hình vùng cao và nguồn nước lạnh, sạch, tương đối ổn định, phù hợp với đặc tính sinh trưởng của cá tầm. Nguồn nước tự nhiên giúp người dân thuận lợi xây dựng các bể nuôi, giảm một phần chi phí tạo môi trường nuôi. So với một số cây trồng, vật nuôi truyền thống, cá tầm có giá trị kinh tế cao, phù hợp phát triển theo hướng hàng hóa. Đây là cơ sở để Cao Bồ khai thác lợi thế tự nhiên, mở rộng nuôi cá nước lạnh gắn với chế biến, tiêu thụ và du lịch.
Toàn xã hiện duy trì 107 bể nuôi cá nước lạnh, tổng dung tích khoảng 26.750 m3, tập trung tại những khu vực có nguồn nước phù hợp. Chính quyền địa phương đang hướng dẫn người dân áp dụng kỹ thuật chăm sóc, quản lý môi trường nước, phòng, chống dịch bệnh, từng bước nâng cao hiệu quả sản xuất.
Ông Nguyễn Văn Dương cho biết, qua thực tế sản xuất, nhiều hộ đã có thu nhập khá từ cá tầm và xã tiếp tục định hướng phát triển mô hình theo hướng hàng hóa, phù hợp với điều kiện tự nhiên và khả năng của người dân trong thời gian tới.
Tại thôn Thác Tăng, xã Cao Bồ, anh Lý Văn Guyện là một trong những hộ đi đầu phát triển nghề nuôi cá tầm. Bắt đầu từ năm 2023, anh tìm hiểu, học hỏi kinh nghiệm từ các mô hình nuôi cá tầm ở một số địa phương khác, sau đó mạnh dạn đầu tư thử nghiệm tại gia đình. Chi phí đầu tư cho mỗi bể nuôi khoảng 40 triệu đồng, bao gồm xây dựng bể và các hạng mục phục vụ nuôi cá.
Nhận thấy cá tầm phù hợp với điều kiện nguồn nước, cho hiệu quả kinh tế cao, anh tiếp tục mở rộng sản xuất. Đến nay, gia đình anh có 2 cơ sở với 23 bể nuôi, xuất bán trên 20 tấn cá thương phẩm/năm, lợi nhuận sau khi trừ chi phí đạt khoảng 300 triệu đồng, trở thành nguồn thu nhập chính của gia đình.
Anh Guyện chia sẻ: "Nuôi cá tầm cần vốn đầu tư khá lớn, thời gian nuôi dài và đòi hỏi kỹ thuật, nhất là kiểm soát nguồn nước và chăm sóc đàn cá. Khi đã nắm kỹ thuật, chủ động được nguồn nước và có đầu ra ổn định thì hiệu quả kinh tế từ nuôi cá tầm khá cao. Đây là lý do gia đình tôi tiếp tục đầu tư, mở rộng quy mô".
So với một số cây trồng, vật nuôi truyền thống tại địa phương, cá tầm cho giá trị kinh tế cao hơn trên cùng quy mô sản xuất, tạo nguồn thu tương đối ổn định.
Từ hiệu quả của những hộ đi trước, mô hình dần lan tỏa trong cộng đồng. Nhiều hộ bắt đầu với quy mô 2 - 4 bể để học hỏi, tích lũy kinh nghiệm và khi nhận thấy thu nhập ổn định sẽ tiếp tục đầu tư mở rộng.
Hiện, cá tầm thương phẩm tại địa phương có giá khoảng 120.000-170.000 đồng/kg, tùy trọng lượng. Mức giá này tạo động lực để người dân mở rộng sản xuất nhưng cũng đòi hỏi kiểm soát tốt tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và thời điểm xuất bán.
Nâng giá trị con cá tầm
Người dân xã Cao Bồ (Tuyên Quang) kiểm tra, chăm sóc cá tầm tại bể nuôi.
Bên cạnh hiệu quả bước đầu, nghề nuôi cá tầm ở Cao Bồ vẫn đối mặt với không ít khó khăn. Vốn đầu tư, yêu cầu kỹ thuật cao, sự phụ thuộc vào nguồn nước và thị trường tiêu thụ chưa thật sự ổn định là những vấn đề đặt ra đối với các hộ nuôi.
Đặc biệt, cá tầm cần môi trường nước sạch, mát và có hàm lượng ô xy phù hợp. Khi thời tiết nắng nóng kéo dài hoặc nguồn nước biến động, người nuôi phải thường xuyên theo dõi và có giải pháp xử lý kịp thời. Đây là một trong những nguyên nhân khiến nghề nuôi cá tầm đòi hỏi sự đầu tư và quản lý cao hơn so với nhiều loại cá truyền thống.
Ông Nguyễn Văn Dương, Chủ tịch UBND xã Cao Bồ cho rằng, để khắc phục những hạn chế này, việc mở rộng nghề nuôi phải đi đôi với nâng cao kỹ thuật và tổ chức lại sản xuất. Khó khăn hiện nay là quy mô các hộ còn nhỏ, đầu tư chưa đồng đều, trong khi đầu ra chưa có sự liên kết chặt chẽ. Thời gian tới, xã sẽ tăng cường hướng dẫn kỹ thuật, khuyến khích các hộ liên kết; đồng thời, kết nối với doanh nghiệp, hợp tác xã để hình thành chuỗi từ sản xuất đến tiêu thụ. Việc bảo vệ nguồn nước cũng phải được đặt lên hàng đầu.
Theo định hướng phát triển giai đoạn 2026-2030, Cao Bồ đặt mục tiêu nâng diện tích nuôi cá tầm lên 1,5 ha, với khoảng 30 hộ tham gia, sản lượng đạt trên 150 tấn với giá trị trên 20 tỷ đồng. Địa phương định hướng phát triển mô hình “Hồ cá tầm kết hợp du lịch” để phục vụ du khách câu cá, thưởng thức sản phẩm tại chỗ và liên kết với hệ thống homestay cung cấp thực phẩm sạch.
Cùng với mở rộng quy mô, xã cũng xác định bài toán nâng cao giá trị sản phẩm. Theo phương án phát triển, cá tầm sẽ được đưa vào chuỗi cung cấp thực phẩm cho nhà hàng, homestay và các điểm du lịch; đồng thời, định hướng phát triển chế biến thủy sản để phục vụ hoạt động ẩm thực du lịch.
Với người nuôi, đây là hướng đi được kỳ vọng giúp giảm phụ thuộc vào thương lái. Anh Lý Văn Guyện cho biết, nếu xây dựng được thị trường ổn định, chắc chắn các hộ sẽ yên tâm đầu tư và mở rộng sản xuất.
“Điều người nuôi mong muốn nhất là có đầu ra ổn định. Nếu sản phẩm được kết nối với nhà hàng, homestay và các cơ sở tiêu thụ, chúng tôi sẽ mạnh dạn đầu tư thêm và nâng cao chất lượng cá,” anh Guyện chia sẻ.
Người dân xã Cao Bồ (Tuyên Quang) kiểm tra, chăm sóc cá tầm tại bể nuôi.
Để hiện thực hóa mục tiêu, Cao Bồ tiếp tục hướng dẫn người dân áp dụng đúng quy trình kỹ thuật, chủ động phòng, chống dịch bệnh, khuyến khích phát triển nuôi cá tầm phù hợp với điều kiện tự nhiên và nhu cầu thị trường. Địa phương cũng từng bước tháo gỡ những khó khăn về kỹ thuật, vốn, môi trường và đầu ra, hướng tới phát triển nghề nuôi theo hướng ổn định, bền vững.
Từ lợi thế nguồn nước cùng hiệu quả kinh tế bước đầu, cá tầm đang mở ra hướng sản xuất hàng hóa mới cho người dân Cao Bồ. Việc gắn nuôi cá với chế biến, tiêu thụ và du lịch được kỳ vọng nâng cao giá trị sản phẩm, tạo thêm sinh kế và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế vùng cao./.