Sở hữu trí tuệ góp phần đưa nông sản Việt đến thị trường thế giới (Bài 3)

Sở hữu trí tuệ góp phần đưa nông sản Việt đến thị trường thế giới (Bài 3)

Bài 3: Mỳ chũ Thuận Hương- không chỉ là món quà quê lên phố

Về Bắc Giang, nơi có rất nhiều các sản phẩm được bảo hộ sở hữu tài sản trí tuệ như mỳ Chũ, vải thiều Lục Ngạn, nấm Lạng Giang, rau an toàn… Trong số đó, có một hợp tác xã quy mô nhỏ nhưng đã để lại ấn tượng đặc biệt là Hợp tác sản xuất kinh doanh truyền thống mỳ Trại Lâm Thuận Hương (làng nghề Thủ Dương, xã Nam Dương, huyện Lục Ngạn).

Sở hữu trí tuệ góp phần đưa nông sản Việt đến thị trường thế giới (Bài 3) ảnh 1Sản xuất mỳ tại Hợp tác xã mỳ chũ Thuận Hương (huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang). Ảnh: Anh Tuấn – TTXVN

Sáng tạo trong sản xuất

Đon đả chào khách, bà chủ hợp tác xã Đào Thị Hương vui vẻ giới thiệu các sản phẩm vừa ra lò. Hiện tại, hợp tác xã có hơn 10 dòng sản phẩm, chủ yếu là mỳ trắng truyền thống.

Dẫn chúng tôi đi tham quan giàn phơi mỳ, với bát nước mắm có chút ớt tươi cay cay, chị Hương cùng một số người ăn ngay sản phẩm tươi tại vườn- một minh chứng cho độ sạch đúng kiểu quê.

Chị Hương kể, làng nghề có từ rất lâu đời, hơn 60 năm trước, các cụ trong làng làm nghề hoàn toàn bằng thủ công, mỗi ngày tráng được khoảng 10-15kg gạo, dậy từ 3 giờ sáng với 3-4 lao động. Dần dần, lớp trẻ hơn cũng đã biết áp dụng khoa học kỹ thuật, đưa máy móc vào sản xuất, tráng bánh bằng máy điện. Dù vẫn ở bước đơn giản nhưng mỗi ngày tráng được 1-3 tạ gạo với cùng lực lượng lao động.

Nối tiếp truyền thống gia đình, chị làm nghề đến nay đã được 12 năm. Để cùng các chị em trong làng đưa sản phẩm truyền thống có điều kiện đi xa hơn, năm 2014, chị thành lập Hợp tác sản xuất kinh doanh truyền thống mỳ Trại Lâm Thuận Hương, giải quyết việc làm cho 10 lao động địa phương.

Nói về những khó khăn, chị Hương chia sẻ, lúc mới thành lập hợp tác xã, vừa phải tìm cách cạnh tranh hiệu quả với các sản phẩm khác, chị vừa phải đi tìm thị trường tiêu thụ. Ngoài ra, để sản phẩm tiếp cận được nhiều người tiêu dùng, có rất nhiều việc phải làm từ bao bì, các loại phiếu kiểm nghiệm chất lượng, giấy chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm, công bố sản phẩm… Khi người dân đón nhận sản phẩm một cách tích cực, ổn định, chị lại tìm những công ty xuất nhập khẩu để đưa sản phẩm đi xa hơn, vượt ra ngoài biên giới.

Trước đây chỉ làm thủ công loại mỳ chũ trắng truyền thống, sau hợp tác xã hướng đến các sản phẩm cao cấp hơn, sạch hơn. Người dân địa phương trước chủ yếu sử dụng các loại gạo như Khang dân, Bao thai, gạo số… chị đi theo hướng riêng dùng gạo Bao thai hồng- hạt trắng, cơm dẻo, ngọt và thơm.

Luôn tìm tòi, sáng tạo, trong quá trình đi tìm kiếm thị trường, chị thấy được một hướng sản xuất khác, bắt kịp với thị hiếu của người tiêu dùng là đưa các loại rau củ tươi địa phương có sẵn vào sản xuất thành mỳ, giúp người tiêu dùng ăn ngon hơn, đủ chất hơn, phù hợp cho người ăn kiêng, người bị bệnh tiểu đường…

Chị nhớ lại, những lúc đưa rau tươi vào sản xuất thành mỳ rau củ gặp rất nhiều vấn đề. Rau tươi xay ép nước để trộn với gạo rất dễ bị mốc do rau xay bị sủi bọt, lên men chua nhiều hơn, tỷ lệ mốc mỳ cao hơn nếu thời tiết ẩm. Tỷ lệ hao hụt quá lớn, 50kg khoai tây tươi xay lọc lấy bột chỉ được 12kg bột. Trộn với bột gạo sẽ rất dẻo và thơm. Nhưng thực tế, sản xuất theo hướng này không hiệu quả, thất bại nhiều lần và cứ vừa làm vừa rút kinh nghiệm, thành công ở sản phẩm nào sẽ duy trì sản phẩm đó. Sau đó, chị phải nhờ chuyên gia tư vấn tỷ lệ bột với rau củ để đảm bảo chất xơ, vitamin, giảm chất bột béo trong gạo.

Các loại màu tự nhiên đã được định hình thành công như màu xanh lấy từ lá nếp, chùm ngây, lá dâu tằm. Vừng đen, đỗ đen làm màu đen, đậu biếc màu tím than, tím huế làm từ khoai lang tím, đỏ làm từ củ dền đỏ, gấc nhưng do nguyên liệu không đảm bảo, dầu gấc dễ làm nhạt màu nên được thay bằng bột hạt điều đỏ. Màu vàng từ nghệ tươi khó ăn do mùi hắc nên được thay bằng khoai lang vàng, bí đỏ. Chị nhận được phản hồi tích cực từ nhiều trường mầm non trên địa bàn đã dùng mỳ ngũ sắc cho bữa ăn của trẻ.

Nói về loại mỳ đặc biệt nhất của hợp tác xã, chị Hương cho biết, mỳ Chũ Green Thuận Hương được sản xuất 100% từ gạo Bao thai hồng tại huyện Lục Ngạn, với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của địa phương thích hợp nên gạo này cho chất lượng mỳ như mong muốn.

Bí quyết để tạo ra sợi mỳ dai, thơm, thanh vị gạo nằm ở quy trình sản xuất tuân thủ các quy tắc cốt lõi hữu cơ, thuần khiết hương vị tự nhiên, không chất bảo quản, chất phụ gia, công thức gia truyền và bàn tay tài hoa của người nghệ nhân, theo đúng các nguyên tắc nghiêm ngặt từ khâu chọn, vo, ngâm, xay, phơi trần và đóng gói sản phẩm mỳ gạo. Đặc biệt nguồn nước làm mỳ phải là nguồn nước giếng khơi hiếm có của làng được lọc qua 1 lớp cát và sỏi, kiểm tra định kỳ theo quy trình sản xuất thực phẩm tại vùng đất này. Sau đó những sợi mỳ được phơi dưới nắng gió hoàn toàn tự nhiên sẽ tạo ra mỳ Chũ Green.

Sở hữu trí tuệ góp phần đưa nông sản Việt đến thị trường thế giới (Bài 3) ảnh 2Sản phẩm mỳ của Hợp tác xã mỳ chũ Thuận Hương (huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang) đang làm các thủ tục đăng ký nhãn hiệu về sở hữu trí tuệ. Ảnh: Anh Tuấn – TTXVN

Đưa sản phẩm vươn ra thị trường quốc tế

Không ngừng nỗ lực, sản phẩm của hợp tác xã đã được khẳng định với thị trường trong nước. Trong số các sản phẩm của hợp tác xã, có 2 sản phẩm là mỳ rau củ Thuận Hương và mỳ Chũ Green đã được UBND tỉnh Bắc Giang chứng nhận là sản phẩm OCOP (mỗi xã một sản phẩm). Năm 2019 mỳ Chũ Green được UBND tỉnh Bắc Giang chứng nhận sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cấp tỉnh và năm 2020 được Cục Công nghiệp địa phương (Bộ Công Thương) chứng nhận ở cấp khu vực. Hợp tác xã đã đăng ký sở hữu trí tuệ năm 2019, đang tiếp tục đăng ký nhãn hiệu cho sản phẩm.

Theo Sở Khoa học và Công nghệ Bắc Giang, để đưa mỳ Chũ Green sang Nhật Bản, hợp tác xã đã phải thực hiện nhiều công đoạn kéo dài trong 4 năm, từ 2016 đến cuối 2019 phía Nhật Bản mới chấp thuận đưa sản phẩm vào tiêu thụ và chính thức được xuất khẩu sang Nhật Bản từ cuối năm 2020 với số lượng nhỏ. Đầu năm 2021, hợp tác xã xuất khẩu được 2 lần với 4,5 tấn sang thị trường này. Mỳ rau củ ngũ sắc Thuận Hương đã được xuất khẩu sang các nước Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc, Nga, Singapore nhưng số lượng còn rất ít, trong đó nhiều nhất là Nhật Bản. Hợp tác xã cũng đang xúc tiến sang thị trường Hoa Kỳ.

Chị Hương chia sẻ, với thị trường “khó tính” này, quá trình kiểm nghiệm rất nghiêm ngặt nên tất cả các khâu ngay từ lựa chọn nguyên liệu, chị đã phải cẩn thận để đảm bảo các sản phẩm sạch, đặc biệt gạo không biến đổi gen. Hiện giờ, cứ 3 tháng một lần hợp tác xã phải gửi mẫu gạo sang Nhật Bản để kiểm định chất lượng.

Thành công với các sản phẩm tự sản xuất đã được khẳng định. Cơ hội tìm kiếm thị trường nước ngoài không phải không có nhưng để đảm bảo sản phẩm theo yêu cầu của phía đối tác rất khó khăn. Chị nhớ lại cơ hội năm 2019, khi có một đối tác người Nga đến đặt hàng mỳ khoai tây với điều kiện sử dụng khoai tây và dầu hướng dương của Nga. Vui như “bắt được của” nhưng mẻ tráng thử 1 tạ đầu tiên không có dầu hướng dương, mỳ ăn được nhưng hơi cứng. Mẻ thứ 2 cho gạo nhiều gấp 3 lần khoai có dầu hướng dương. Màu sắc rất đẹp, sau 1 tuần theo dõi, mùi dầu hướng dương hôi, không giao được cho khách. Đưa về các đại lý trong nước, 1 tháng sau các đại lý trả lại hết vì bị mùi dầu. Vậy là đơn đặt hàng 30 tấn/tháng không thể thực hiện.

Nói về những dự định phía trước, với chị Hương, do nghề này vẫn phụ thuộc nhiều vào yếu tố thời tiết, chỉ phù hợp khi trời tạnh ráo, nắng nhiều nên chị mong muốn để đáp ứng được nhu cầu của thị trường, các cấp lãnh đạo quan tâm, giúp đỡ hợp tác xã mở thêm 1.000m2 nhà lưới, dàn sấy bằng năng lượng mặt trời, sản xuất theo hướng hữu cơ nhằm tiếp cận sâu hơn ở thị trường Nhật Bản. Chị luôn tìm hiểu, học hỏi để thay đổi mẫu mã, tìm các loại nguyên liệu làm bao bì thân thiện với môi trường. (Xem tiếp Bài cuối: Tôn vinh những doanh nghiệp vừa và nhỏ).

Minh Nguyệt

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.