Tạo cơ chế khuyến khích nông nghiệp hữu cơ

Tỉnh Đồng Nai khuyến khích các tổ chức và cá nhân sản xuất, chế biến, kinh doanh nông, lâm, thủy sản thực hiện phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ nhằm tạo ra sản phẩm an toàn và chất lượng cao, nâng cao giá trị sản phẩm cao gấp 1,5 - 2,0 lần so với sản phẩm nông nghiệp thông thường; đảm bảo an toàn cho người sản xuất, bảo vệ sự đa dạng hệ sinh thái và môi trường; gắn với phát triển kinh tế nông nghiệp tuần hoàn, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển nông nghiệp hữu cơ bền vững.

Diện tích trồng điều ghép cho năng suất cao tại Bình Phước. Ảnh minh họa: K gửiH/TTXVN

Diện tích trồng điều ghép cho năng suất cao tại Bình Phước. Ảnh minh họa: K gửiH/TTXVN

Sau Chư Sê (tỉnh Gia Lai), Lộc Ninh là địa phương thứ 2 trong cả nước được cấp chứng nhận nhãn hiệu tập thể về hồ tiêu và cũng là nông sản đầu tiên của Bình Phước cũ có đăng ký sở hữu trí tuệ. Hiện nay, thị trường tiêu thụ nông sản nói chung và hồ tiêu nói riêng ngày càng yêu cầu khắt khe về chất lượng sản phẩm, vì vậy, nông dân trồng hồ tiêu Lộc Ninh đã chuyển đổi mô hình sản xuất, hướng đến nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, đáp ứng các tiêu chuẩn như VietGAP, GlobalGAP... Theo đó, từ năm 2014 đến nay, trên địa bàn huyện Lộc Ninh cũ đã thành lập khoảng 24 Câu lạc bộ trồng tiêu sạch với hơn 600 thành viên, tổng diện tích 645 ha. Hằng năm, các Câu lạc bộ trồng tiêu sạch đã đăng ký cung ứng gần 1.180 tấn hạt tiêu khô, tiêu sạch với Công ty TNHH chế biến gia vị Nedspice Bình Phước.

Bà Vũ Thị Thuận (ấp Bù Tam, xã Lộc Quang) cho biết, gia đình bà có 1 ha tiêu trồng và chăm sóc theo hướng hữu cơ, cho năng suất thu hoạch trung bình 4 tấn. Nhãn hiệu tập thể “Hồ tiêu Lộc Ninh” đã mở ra hướng phát triển cây tiêu bền vững, đầu ra ổn định và giá cả tốt so với thị trường nên nguồn thu từ cây tiêu mang lại cho gia đình luôn ổn định.

Cũng chuyên canh về cây hồ tiêu, gia đình ông Nguyễn Văn Luận (xã Đắc Ơ) là thành viên tiêu viên tiêu biểu của Hợp tác xã Nông nghiệp hữu cơ Bình Phước (đã được cấp chứng nhận đạt chuẩn hữu cơ châu Âu, giá bán cao hơn thị trường từ 25 - 40%). Theo ông Luận, để có được gần 3 ha hồ tiêu đạt chứng nhận hữu cơ châu Âu như hiện nay, gia đình ông đã mất 5 năm thay đổi phương thức sản xuất hồ tiêu từ truyền thống sang sản xuất an toàn và mất thêm 3 năm từ hồ tiêu an toàn sang hồ tiêu hữu cơ. Chính vì vậy, trong 3 năm gần đây, chất lượng sản phẩm hạt tiêu của gia đình ông Luận luôn đạt yêu cầu đối với hơn 900 hoạt chất phải phân tích theo chuẩn hữu cơ châu Âu đưa ra. Năng suất cũng như giá bán sản phẩm hạt tiêu cũng cao hơn 40% so với giá thị trường, trong khi chi phí sản xuất giảm đi rất nhiều.

Ông Nguyễn Văn Luận chia sẻ, trồng tiêu hữu cơ không khó. Nhiều người lầm tưởng cứ phải dùng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật hóa học mới trị sâu, trị bệnh hiệu quả được, nhưng đó là suy nghĩ sai lầm. Có thể nghiên cứu việc sản xuất phân bón hữu cơ từ chế phẩm vi sinh vật bản địa (IMO) để bón cho vườn cây được tận dụng từ những phụ phẩm sẵn có ở gia đình như chuối, đu đủ, bơ, mít, các loại rau củ... đồng thời thêm men vi sinh vào phối trộn rồi ủ trong thùng phi khoảng 7 ngày sẽ thành chế phẩm IMO gốc. Với việc sử dụng chế phẩm IMO, gia đình ông Luận chỉ tốn hơn 10 triệu đồng/ha/năm để chăm bón cho cây trồng. Trong khi đó, trước đây, ông sử dụng phân hóa học thì chi phí đầu tư ít nhất cũng 100 triệu đồng/ha/năm, chưa kể bón thêm phân chuồng.

Theo Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp hữu cơ Bình Phước Mai Hiển Huy, hợp tác xã hiện có khoảng 100 thành viên; trong đó, 29 thành viên với tổng diện tích gần 60 ha hồ tiêu đã được chứng nhận hữu cơ, toàn bộ các thành viên còn lại với diện tích hàng trăm ha cũng được duy trì sản xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ, bền vững (RA). Nhờ sản xuất theo chuẩn, hợp tác xã là đối tác của Công ty TNHH Chế biến gia vị Nedspice Việt Nam. Sản phẩm đầu ra được công ty đến tận vườn thu mua với giá cao hơn thị trường 20% đối với tiêu hữu cơ và 5% với tiêu an toàn.

Được thành lập từ năm 2022, là hợp tác xã tiêu biểu trong lĩnh vực nông nghiệp thực hiện liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị, Hợp tác xã Nông nghiệp Điều hữu cơ Trảng cỏ Bù Lạch (thuộc thôn 5, xã Thọ Sơn, tỉnh Đồng Nai) trong những năm qua đã và đang giúp nhiều hộ dân đồng bào dân tộc thiểu số phát triển kinh tế, góp phần xóa đói giảm nghèo. Hợp tác xã hiện có hơn 200 thành viên; trong đó, trên 120 thành viên là người đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Diện tích đất trồng điều đang tham gia liên kết của thành viên là 1.000 ha điều, nhiều hộ đã có thu nhập ổn định.

Anh Điểu Nu (thôn 5, xã Thọ Sơn) cho biết trước đây, lúc chưa tham gia hợp tác xã thì giá thu mua điều không ổn định. Thế nhưng sau khi tham gia vào hợp tác xã và sản xuất điều theo hướng hữu cơ thì giá tăng lên từ 500 - 1.000 đồng/kg. Bên cạnh đó, thành viên tham gia hợp tác xã còn được hỗ trợ tiền phát cỏ 300.000 đồng/ha; cung cấp vốn không lãi cho người dân có kinh phí mua phân bón; hướng dẫn cách trồng xen canh và chọn một số giống điều mới có năng suất cao.

Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Điều hữu cơ Trảng cỏ Bù Lạch Bà Thị Khưi khẳng định, Hợp tác xã sản xuất theo hướng hữu cơ bền vững mang lại giá trị sản phẩm nông nghiệp chất lượng tốt, không bị ép giá, đầu ra ổn định. Hiện nay, hợp tác xã đã liên doanh, liên kết với các công ty xuất khẩu điều hỗ trợ các thành viên canh tác điều theo hướng hữu cơ; đồng thời, bao tiêu sản phẩm cho các thành viên, mang lại lợi nhuận, nâng cao đời sống, hỗ trợ xóa đói giảm nghèo tại địa phương.

Để đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ trên địa bản tỉnh thời gian tới, Đồng Nai quy hoạch, phát triển vùng sản xuất nông nghiệp hữu cơ tập trung. Theo đó, các địa phương căn cứ vào điều kiện đất đai, thổ nhưỡng để lựa chọn đối tượng cây trồng, vật nuôi phù hợp, có tiềm năng thị trường để định hướng phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp hữu cơ tập trung, chuyên canh, cũng như mời gọi các doanh nghiệp, các hợp tác xã và người dân đầu tư vào sản xuất nông nghiệp hữ cơ.

Cùng đó, tỉnh xây dựng các mô hình liên kết theo chuỗi giá trị giữa các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác với người dân trong sản xuất, chế biến, kinh doanh các sản phẩm hữu cơ tại các vùng sản xuất tập trung tạo ra hàng hóa quy mô lớn đối với các sản phẩm chủ lực của địa phương. Đồng thời, khuyến khích các hình thức sản xuất theo quy mô hợp tác xã, doanh nghiệp, tổ hợp tác để sản xuất các sản phẩm mang tính đặc sản của địa phương; ưu tiên các sản phẩm khai thác từ tự nhiên và mang tỉnh truyền thống và đẩy mạnh phong trào xây dựng vườn, ao, chuồng hữu cơ gắn với thu gom phê phụ phẩm nông nghiệp làm phân bón hữu cơ.

Mặt khác, Đồng Nai còn tăng cường chế biến và tiêu thụ hàng hóa được sản xuất hữu cơ; trong đó, xây dựng mô hình liên kết hình thành chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp hữu cơ từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ; ứng dụng công nghệ cao để chế biến sâu, chế biến tinh, tạo ra sản phẩm có giá trị đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong và ngoài nước; khuyến khích các doanh nghiệp đưa các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ vào hệ thống các siêu thị, cửa hàng tiện ích và chuỗi cung ứng sản phẩm an toàn.

Tỉnh tăng cường nghiên cứu thị trường, xây dựng và tổ chức mạng lưới thông tin đáp ứng yêu cầu thông tin thương mại nông lâm thủy sản; giới thiệu quảng bá sản phẩm thông qua hội chợ, triển lãm trong nước và khu vực; tổ chức, hướng dẫn và hỗ trợ các doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký xây dựng nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý để thực hiện tốt việc truy xuất nguồn gốc; hỗ trợ phát triển thị trường, xây dựng thương hiệu hàng hóa chủ lực của tỉnh; thực hiện việc kiểm tra giám sát các cơ sở sản xuất, kinh doanh sản phẩm hữu cơ và chất lượng sản phẩm nông nghiệp hữu cơ theo quy định để đảm bảo chất lượng sản phẩm phù hợp với tiêu chuẩn đã được chứng nhận khi lưu thông trên thị trường.

Ngoài ra, Đồng Nai cũng tiếp tục nghiên cứu xây dựng các chính sách mới, nhất là việc khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp hữu cơ, tạo điều kiện để các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đầu tư trong lĩnh vực này. Đồng thời, tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ về kinh phí, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, quy trình canh tác, liên kết tiêu thụ nông lâm thủy sản... nhằm tạo thêm nguồn lực phát triển nông nghiệp hữu cơ…./.

Nhật Bình/TTXVN

Có thể bạn quan tâm

Phương án nghỉ hưu cho người lao động ở vùng đặc biệt khó khăn

Phương án nghỉ hưu cho người lao động ở vùng đặc biệt khó khăn

Bạn đọc hỏi: Tôi là thầy giáo 48 tuổi, đã đóng BHXH bắt buộc 25 năm 5 tháng, trong đó có 8 năm công tác ở vùng đặc biệt khó khăn. Do sức khỏe không ổn định nên tôi muốn nghỉ việc để chuyển sang công việc khác. Xin hỏi, nếu không đóng tiếp BHXH thì đợi đến năm 62 tuổi mới nhận được lương hưu, thì mức lương hưu hằng tháng được tính như thế nào? Thời gian công tác ở vùng đặc biệt khó khăn là 8 năm có được tính để nghỉ hưu sớm hay không?

Hiểu tiếng đồng bào, thấu lòng dân

Hiểu tiếng đồng bào, thấu lòng dân

Tại các xã miền núi tỉnh Quảng Ngãi - nơi quy tụ đồng bào của 44 dân tộc thiểu số cùng chung sống, rào cản ngôn ngữ từng là khó khăn lớn trong công tác tiếp xúc, giải quyết công việc của đội ngũ cán bộ, chiến sĩ và giáo viên công tác tại cơ sở.

Điện Biên xây dựng môi trường giáo dục số

Điện Biên xây dựng môi trường giáo dục số

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong dạy học, tỉnh Điện Biên đang từng bước xây dựng môi trường giáo dục số. Công nghệ không chỉ làm cho bài học trực quan, sinh động hơn mà còn hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy và công tác quản lý nhà trường. Ghi nhận tại Trường Tiểu học và THCS Mường Thanh, phường Mường Thanh.

Phổ biến Bộ Quy tắc ứng xử văn hóa trên môi trường mạng

Phổ biến Bộ Quy tắc ứng xử văn hóa trên môi trường mạng

Ngày 28/9, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai tổ chức Hội nghị tuyên truyền, phổ biến Bộ Quy tắc ứng xử văn hóa trên môi trường mạng và các quy định của pháp luật về quản lý, cung cấp, sử dụng thông tin trên mạng năm 2026.

Bảo tồn nguồn gen, mở rộng chăn nuôi gà sáu ngón Mẫu Sơn

Bảo tồn nguồn gen, mở rộng chăn nuôi gà sáu ngón Mẫu Sơn

Gà sáu ngón là con nuôi bản địa quý đã gắn bó lâu đời với người dân xã Mẫu Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Đây là giống gà có giá trị dinh dưỡng và đem lại thu nhập cao, được bà con dân tộc Dao, Tày, Nùng nuôi rải rác ở vùng núi cao Mẫu Sơn.

Lào Cai tăng cường quản lý đất đai, môi trường

Lào Cai tăng cường quản lý đất đai, môi trường

Sau sự việc cơ sở đốt than củi gây ô nhiễm, xã Đông Cuông, tỉnh Lào Cai rà soát toàn bộ 15 cơ sở sản xuất than củi quế, siết chặt quản lý đất đai, xây dựng và môi trường; yêu cầu hoàn thiện thủ tục pháp lý, hệ thống xử lý khí thải trước khi hoạt động trở lại.

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.