Thái Bình chú trọng gia tăng giá trị lợi ích từ nghề nuôi ngao

Thái Bình chú trọng gia tăng giá trị lợi ích từ nghề nuôi ngao

Từ nhiều năm nay, ngao là đối tượng chủ lực trong phát triển kinh tế biển của tỉnh Thái Bình, góp phần thay đổi mạnh mẽ đời sống kinh tế của người dân ven biển. Vì vậy, xây dựng và phát triển thương hiệu ngao Thái Bình luôn là mục tiêu quan trọng đối với ngành nông nghiệp, thủy sản địa phương nhất là khi sản lượng ngao nuôi của tỉnh lớn nhất cả nước.

Thái Bình có 5 cửa sông lớn gồm sông Thái Bình, sông Diêm Hộ, Trà Lý, Lân, Ba Lạt. Điều kiện tự nhiên này đã tạo nên vùng triều rộng khoảng 25.000 ha; trong đó vùng cao, vùng triều 7.000 ha; vùng hạ triều 18.000 ha, thuận lợi phát triển nuôi trồng thủy sản nước mặn và nước lợ. Với lợi thế đó, tỉnh Thái Bình đã sớm phát triển nghề nuôi ngao mang lại hiệu quả, thu nhập cao cho người dân.

Xã Đông Minh (huyện Tiền Hải) có 285 hộ nuôi ngao với tổng diện tích gần 450 ha. Nghề nuôi ngao đã giúp cuộc sống của nông dân ở đây thay đổi. Bà Phạm Thị Giang, thôn 5, xã Đông Minh đã có hơn 10 năm gắn bó với nghề nuôi ngao. Bà cho biết, với 1,2 ha diện tích nuôi ngao, nếu thuận lợi trung bình mỗi năm gia đình bà thu được khoảng 300 – 350 triệu đồng/ha. Vài năm trở lại đây, bà Giang cũng như nhiều người dân xã Đông Minh mạnh dạn chuyển đổi từ nuôi ngao thương phẩm sang ương nuôi ngao giống, thời gian thả ít hơn, thu hồi vốn nhanh hơn.

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Bình, đối với phát triển thủy sản tỉnh Thái Bình, ngao được xác định là đối tượng phát triển chủ lực. Tỉnh đã thực hiện quy hoạch vùng nuôi và phát triển ổn định cả về sản lượng và diện tích từ năm 2010 đến nay. Tổng diện tích nuôi ngao của tỉnh hiện nay đạt 3.169 ha; trong đó, huyện Tiền Hải có 1.869 ha, tập trung tại 3 xã Nam Thịnh, Đông Minh, Đông Hoàng; huyện Thái Thụy có 1.300 ha, tập trung tại các xã Thái Đô, Thụy Trường, Thụy Xuân, Thụy Hải, Thái Thượng.

Sản lượng ngao nuôi liên tục tăng mạnh trong những năm gần đây từ 30,1 nghìn tấn năm 2010 lên 110,3 nghìn tấn năm 2019, đạt tốc độ tăng bình quân 23,3%/năm. Năm 2020 tổng sản lượng ngao nuôi của tỉnh đạt 114,9 nghìn tấn (tăng 6,3% so với năm 2019). Hiện nay, Thái Bình là tỉnh có sản lượng ngao nuôi lớn nhất cả nước với khoảng 44,5%.

Tiềm năng, lợi thế phát triển nuôi ngao của Thái Bình là rất lớn, tuy vậy thị trường tiêu thụ cũng như số doanh nghiệp đứng chân trên địa bàn tham gia vào chuỗi phát triển con ngao lại rất hạn chế. Năm 2003, ngao Thái Bình đã được xác nhận nhãn hiệu.

Hiện nay, ngao Thái Bình có sản phẩm nguyên con hút chân không và nguyên con hấp hút chân không, thị trường chính là phục vụ nhu cầu trong nước, xuất khẩu sang Trung Quốc chủ yếu theo con đường tiểu ngạch qua cửa khẩu tỉnh Quảng Ninh và chỉ có khoảng 8.000 tấn/năm được xuất khẩu sang thị trường EU. Trên địa bàn chỉ có duy nhất Công ty Trách nhiệm hữu hạn Nghêu Thái Bình đủ điều kiện xuất khẩu sang các nước EU nhưng cũng chỉ đáp ứng tiêu thụ một phần rất nhỏ so với tổng sản lượng sản xuất.

Theo bà Nguyễn Thị Nga, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Bình, sản lượng xuất khẩu sang thị trường khó tính như EU chỉ chiếm khoảng 1% sản lượng, số lượng các hợp đồng liên kết sản xuất, tiêu thụ còn hạn chế, chủ yếu thông qua thương lái nên giá cả không ổn định. Đây là con số còn rất khiêm tốn so với năng lực sản xuất của địa phương.

Ngoài ra, nghề nuôi ngao tại Thái Bình hiện nay phải đối mặt với nhiều khó khăn khác như biến đổi khí hậu khiến độ mặn trong nước biển tăng dẫn đến ngao chết nhiều, thất thoát ngao ra khỏi vùng nuôi do bão và nước triều dâng. Một số vùng nuôi với mật độ quá dày dẫn đến chất lượng ngao không đảm bảo. Thiếu con giống chất lượng do nguồn giống sản xuất tại chỗ chỉ đáp ứng được 25% nhu cầu, còn lại nông dân chủ yếu mua từ địa phương khác, khai thác tự nhiên hoặc nhập từ Trung Quốc.

Nhằm gia tăng giá trị lợi ích từ nghề nuôi ngao, khẳng định thương hiệu “Ngao Thái Bình” và hướng đến thị trường xuất khẩu, tỉnh Thái Bình thực hiện giám sát chặt chẽ từ con giống, nguồn nước nuôi đến chất lượng sản phẩm. Trong lộ trình đó, tỉnh Thái Bình dự kiến đầu tư 203 tỷ đồng thực hiện Đề án phát triển sản xuất ngao giống giai đoạn 2017 - 2020 định hướng đến năm 2025 nhằm tạo ra con giống chất lượng cao, có sức đề kháng tốt, sinh trưởng nhanh, từ đó nâng cao hiệu quả nuôi ngao thương phẩm, gia tăng giá trị và phát triển bền vững. Dự kiến đến năm 2025, tỉnh sẽ hoàn toàn chủ động được nguồn ngao giống.

Bà Nguyễn Thị Nga cho biết, định hướng của tỉnh trong phát triển ngành thủy sản nói chung và nghề nuôi ngao nói riêng là đẩy mạnh phát triển nuôi trồng, chế biến theo hướng hiệu quả, giảm dần xuất khẩu sản phẩm thô và sơ chế, nâng cao tỷ trọng chế biến sâu, đa dạng hóa các sản phẩm chế biến như sản phẩm làm sẵn, ăn liền.

Phát triển bền vững kinh tế biển gắn với bảo vệ môi trường sinh thái và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tự nhiên. Hướng tới thị trường xuất khẩu với yêu cầu của mỗi quốc gia khác nhau, tỉnh Thái Bình chú trọng phát triển mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và người sản xuất đảm bảo con giống đầu vào đến sản phẩm đầu ra đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng.

Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Bình Nguyễn Thị Nga, để duy trì những liên kết này, doanh nghiệp và người sản xuất cần có thỏa thuận từ ban đầu để đáp ứng tiêu chuẩn của thị trường. Nếu có những thỏa thuận, tiêu chuẩn từ trước khi sản xuất, người nuôi ngao của tỉnh Thái Bình sẽ đáp ứng tốt được các yêu cầu sản xuất bởi nuôi ngao là nghề tự nhiên, người nuôi chỉ tham gia tác động vào các yếu tố thời vụ thả, chất lượng nguồn giống và kiểm soát nguồn nước nuôi.

Thu Hoài

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.