Trong sắc màu rộn ràng của Tết cổ truyền dân tộc Khmer (Chol Chnam Thmay) năm 2026, những chuyến thăm, lời chúc mừng và các cuộc gặp gỡ giữa lãnh đạo, nhân dân hai nước đã trở thành nhịp cầu bền chặt, tiếp tục vun đắp tình đoàn kết, hữu nghị truyền thống Việt Nam - Campuchia.
Gắn kết nghĩa tình từ dòng chảy văn hóa
Tây Ninh nằm ở vị trí địa chiến lược với đường biên giới dài hơn 368 km, tiếp giáp ba tỉnh Tboung Khmum, Prey Veng và Svay Rieng (Campuchia). Khu vực biên giới có 19 xã với 21 cửa khẩu, gồm 4 cửa khẩu quốc tế, 4 cửa khẩu chính, 13 cửa khẩu phụ và 1 khu vực cụm cảng Bến Lức (18 cảng). Hệ thống này không chỉ là “mạch máu” giao thương mà còn thúc đẩy giao lưu nhân dân, phát triển kinh tế biên mậu và củng cố quốc phòng - an ninh.
Những ngày đầu tháng Tư, không khí đón Tết Chol Chnam Thmay lan tỏa khắp các tỉnh giáp biên Campuchia, mang theo niềm vui và kỳ vọng về một năm mới bình an của bà con đồng bào dân tộc Khmer. Trong dòng chảy văn hóa ấy, các đoàn công tác tỉnh Tây Ninh đã góp thêm sắc màu ấm áp, thể hiện tình cảm gắn bó giữa các địa phương hai nước.
Trong các ngày 6, 9 và 10/4, Đoàn công tác của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh đã đến thăm, chúc Tết tại ba tỉnh Svay Rieng, Prey Veng và Tboung Khmum, góp phần củng cố quan hệ hữu nghị, đoàn kết khu vực biên giới.
Tại tỉnh Svay Rieng, đoàn do Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Quyết làm Trưởng đoàn, cùng Thượng tướng Trần Đơn, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Trung tướng Triệu Xuân Hòa, nguyên Tư lệnh Quân khu 7, đã đến thăm, chúc Tết. Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Quyết khẳng định mối quan hệ hữu nghị Việt Nam - Campuchia là tài sản quý báu, được vun đắp qua nhiều thế hệ; đồng thời nhấn mạnh hiệu quả hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế, giao lưu nhân dân và quản lý, bảo vệ biên giới.
Theo đó, hoạt động thương mại biên giới ngày càng phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông hàng hóa và đi lại của người dân. Đặc biệt, thỏa thuận hợp tác giai đoạn 2026 - 2030 giữa hai tỉnh là nền tảng quan trọng để thúc đẩy quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu, hiệu quả và bền vững.
Tiếp nối các hoạt động, tại Trung tâm hành chính tỉnh Prey Veng, đoàn do ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Tây Ninh làm Trưởng đoàn đã đến chúc Tết, giao lưu văn hóa trong không khí thân tình.
Ông Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh, Tết Chol Chnam Thmay không chỉ là dịp chuyển giao năm cũ - năm mới mà còn mang ý nghĩa văn hóa, tâm linh sâu sắc, thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn, tri ân tổ tiên và cầu mong quốc thái dân an của đồng bào Khmer. Đây cũng là dịp tăng cường giao lưu nhân dân, góp phần làm sâu sắc hơn tình đoàn kết hữu nghị giữa hai nước.
Ông Nguyễn Mạnh Hùng khẳng định, hợp tác với các địa phương Campuchia, đặc biệt là Prey Veng, không ngừng được củng cố, phát triển thực chất trên nhiều lĩnh vực. Hai bên duy trì trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm quản lý, phối hợp chặt chẽ về kinh tế, thương mại, nông nghiệp, y tế, giáo dục, văn hóa và quốc phòng - an ninh.
Điểm nhấn hợp tác là việc khai trương cặp cửa khẩu quốc tế Tân Nam - Mean Chey ngày 8/12/2025, mở ra không gian phát triển mới cho khu vực biên giới. Cùng với đó, thỏa thuận hợp tác giai đoạn 2026 - 2030 ký ngày 29/1/2026 tạo nền tảng thúc đẩy hợp tác toàn diện, nâng cao đời sống nhân dân hai bên.
Đáp lại, ông Sourn Somalin, Tỉnh trưởng tỉnh Prey Veng nhấn mạnh, quan hệ giữa Campuchia và Việt Nam thời gian qua luôn được vun đắp trên nền tảng láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện và lâu dài, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước, đồng thời đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định và phát triển trong khu vực. Trong đó, hợp tác giữa Prey Veng và Tây Ninh ngày càng phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại biên giới với kim ngạch xuất nhập khẩu tăng trưởng tích cực. Hai địa phương sẽ tiếp tục tăng cường phối hợp, phát triển kinh tế cửa khẩu, tạo thuận lợi lưu thông hàng hóa và nâng cao đời sống người dân.
Tỉnh trưởng Prey Veng cũng khẳng định, trong thời gian tới, hai địa phương sẽ tiếp tục tăng cường phối hợp, mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực, nhất là phát triển kinh tế cửa khẩu, tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông hàng hóa, thúc đẩy đầu tư và nâng cao đời sống người dân khu vực biên giới. Đồng thời bày tỏ tin tưởng, dưới sự lãnh đạo của Chính phủ hai nước, mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết giữa hai tỉnh sẽ tiếp tục được củng cố, phát triển ngày càng đi vào chiều sâu, thiết thực và hiệu quả.
Thắt chặt hợp tác, vun đắp tình hữu nghị, đoàn kết
Ông Lê Văn Hẳn, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh (trái) tặng quà, chúc mừng Tết cổ truyền Chol Chnam Thmay năm 2026 tới ông Pen Kosal, Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia tỉnh, Tỉnh trưởng tỉnh Tboung Khmum (phải). Ảnh: Giang Phương/TTXVN
Tiếp nối hành trình, ngày 10/4, tại Văn phòng hành chính tỉnh Tboung Khmum, Đoàn đại biểu tỉnh Tây Ninh và Đồng Nai do ông Lê Văn Hẳn, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh và ông Võ Tấn Đức, Phó Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Đồng Nai làm Trưởng đoàn đã đến thăm, chúc Tết lãnh đạo và nhân dân địa phương.
Tiếp đoàn có ông Long Theam, Chủ tịch Hội đồng tỉnh; ông Pen KoSal, Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia tỉnh, Tỉnh trưởng tỉnh Tboung Khmum.
Thay mặt Đảng bộ, chính quyền và nhân dân hai tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai, ông Lê Văn Hẳn gửi lời chúc mừng tới lãnh đạo, cán bộ, lực lượng vũ trang và nhân dân tỉnh Tboung Khmum đón năm mới hạnh phúc, thành công; đồng thời chúc mừng những thành tựu nổi bật mà địa phương đạt được thời gian qua trên các lĩnh vực, nhất là trong mở rộng hội nhập quốc tế.
Ông Lê Văn Hẳn nhấn mạnh: “Việt Nam và Campuchia là hai nước láng giềng có mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị truyền thống lâu đời trở thành tài sản vô giá của cả hai dân tộc. Với phương châm “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài”, hai nước tiếp tục phát huy tình hữu nghị, góp phần duy trì hòa bình, ổn định”.
Việc ký kết thỏa thuận hợp tác ngày 29/1/2026 giữa Tây Ninh và Tboung Khmum tạo nền tảng vững chắc để quan hệ phát triển chiều sâu, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước và giữ vững ổn định khu vực biên giới.
Ông Lê Văn Hẳn cũng bày tỏ vui mừng trước những kết quả phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tboung Khmum, đồng thời tin tưởng địa phương sẽ tiếp tục đạt nhiều thành tựu hơn nữa trong thời gian tới. Nhân dịp năm mới, ông gửi lời chúc tốt đẹp, khẳng định tình đoàn kết hữu nghị giữa hai nước và các địa phương sẽ mãi bền vững.
Nghệ sĩ Khmer biểu diễn múa truyền thống trong dịp Tết Chol Chnam Thmay năm 2026 tại tỉnh Tboung Khmum (Campuchia). Ảnh: Giang Phương/TTXVN
Ông Pen KoSal bày tỏ cảm ơn sâu sắc, nhấn mạnh Tết Chol Chnam Thmay là lễ hội văn hóa lớn của Campuchia, mang ý nghĩa khép lại năm cũ, hướng tới tương lai tốt đẹp. Năm Bính Ngọ theo quan niệm của người Khmer là biểu tượng của sự nhanh nhẹn, bền bỉ và tràn đầy năng lượng.
Ông Pen KoSal cho biết, tỉnh Tboung Khmum đã đạt được nhiều kết quả trong phát triển kinh tế - xã hội; những thành tựu đó có sự đóng góp quan trọng từ mối quan hệ hợp tác với các tỉnh giáp biên Việt Nam. Hai bên đã phối hợp hiệu quả trong bảo đảm an ninh trật tự khu vực biên giới, phát triển thương mại, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân qua lại và tăng cường giao lưu văn hóa.
Được vun đắp bằng niềm tin, sự sẻ chia và hợp tác thực chất qua nhiều thế hệ, tình hữu nghị Việt Nam - Campuchia đã trở thành biểu tượng sinh động và bền chặt. Từ những chuyến thăm, những cái bắt tay ấm áp đến các chương trình hợp tác cụ thể, tất cả đang góp phần làm sâu sắc hơn tình đoàn kết giữa hai dân tộc. Trên nền tảng đó, những bước đi hôm nay tiếp tục nối dài truyền thống hữu nghị, cùng hướng tới xây dựng tuyến biên giới Việt Nam - Campuchia hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển bền vững trong tương lai./.
Tên tự gọi: Người Khmer.
Tên gọi khác: Cur, Cul, Cu Thổ, Việt gốc Miên, Khơ Me K’rôm.
Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.
Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.
Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.
Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.
Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.
Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.
Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.
Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).
Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.
Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Theo cema.gov.vn