Thoát nghèo nhờ nghề đan lục bình ở Kiên Giang

Tận dụng nguồn nguyên liệu là cây lục bình có nhiều ở sông, rạch, các hội viên phụ nữ ở tỉnh Kiên Giang đã tạo ra sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ loại cây này để cải thiện thu nhập, vươn lên thoát nghèo và ổn định cuộc sống.

vna_potal_hop_tac_xa_dan_luc_binh_o_kien_giang_tao_viec_lam_cho_gan_400_lao_dong_nong_thon_7559776.jpg
Hơn 7 năm đan lục bình, bà Nguyễn Thủy Giang (giữa) ở xã Vĩnh Hòa Hưng Bắc (huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang) đã vươi lên thoát nghèo. Ảnh: Văn Sĩ - TTXVN

Tăng thu nhập cho lao động nông thôn

Là một trong những Hợp tác xã thủ công mỹ nghệ được thành lập sớm ở Kiên Giang, đến nay, Hợp tác xã thủ công mỹ nghệ Thuận Phát, ở ấp 6, xã Vĩnh Hòa Hưng Bắc (huyện Gò Quao) đã tạo việc làm, thu nhập ổn định cho hơn 300 lao động nữ trong và ngoài xã.

Bà Trần Thị Thu Ngân, Giám đốc Hợp tác xã thủ công mỹ nghệ Thuận Phát cho biết, hiện Hợp tác xã có 10 thành viên và nhận cung cấp khung đan, thu gom sản phẩm của hơn 300 hộ trong xã Vĩnh Hòa Hưng Bắc và một số xã lân cận như, Vĩnh Hòa Hưng Nam, Định An, Định Hòa…

Qua hơn 7 năm đi vào hoạt động, Hợp tác xã tạo việc làm và nguồn thu nhập ổn định cho khoảng 450 lao động thường xuyên. Trong số đó, có gần 20 hộ nghèo và cận nghèo đã thoát nghèo, những hộ khác vươn lên khá giả nhờ nghề đan các sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ lục bình.

Theo bà Trần Thị Thu Ngân, mức thu nhập trung bình của những người gia công cho Hợp tác xã từ 3 - 4,5 triệu đồng/tháng. Điều đặc biệt đối với nghề đan lục bình là nguồn nguyên liệu sẵn có nên người lao động không phải tốn thêm chi phí. Mọi người rảnh lúc nào làm lúc đó, không bị gò bó về thời gian nên gia đình nào cũng có thể tham gia.

vna_potal_hop_tac_xa_dan_luc_binh_o_kien_giang_tao_viec_lam_cho_gan_400_lao_dong_nong_thon_7559785.jpg
Bà Trần Thị Thu Ngân, Giám đốc Hợp tác xã Thuận Phát (xã Vĩnh Hòa Hưng Bắc, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang) kiểm tra sản phẩm. Ảnh: Văn Sĩ - TTXVN

Hợp tác xã ký kết với một số công ty và được họ cung cấp khung đan, đồng thời thu gom nguồn nguyên liệu là cây lục bình, sau đó giao cho người nhận gia công. Đan xong nhân viên của Hợp tác xã đến thu gom sản phẩm. Nhiều chị em tự xuống sông, rạch cắt lục bình rồi phơi khô để làm nguyên liệu sẽ có thêm nguồn thu nhập ngoài tiền gia công sản phẩm. Vì vậy, một số gia đình có thể thu nhập trên 8 triệu đồng/tháng. Đến nay, hơn 60% gia đình nhận gia công các sản phẩm đã xây nhà khang trang, đời sống nâng lên đáng kể, bà Ngân cho biết thêm.Bà Nguyễn Thủy Giang, ấp 6, xã Vĩnh Hòa Hưng Bắc chia sẻ, nghề đan lục bình không chỉ giúp gia đình thoát nghèo mà còn tạo thu nhập để vợ chồng bà lo cho 4 người con học hành, đến nay đã ra trường có việc làm ổn định.

Vợ chồng bà đã hơn 60 tuổi, không có đất ruộng sản xuất nên nhiều năm qua gắn bó với nghề đan lục bình. Trước đây, khi các con còn học, ông bà cố gắng làm cả ngày và buổi tối, thu nhập khoảng 7-8 triệu đồng mỗi tháng, đủ lo cho các con. Hai năm gần đây, mỗi ngày, ông bà dành khoảng 6-7 giờ để đan, thu nhập từ 5-6 triệu đồng, cũng đảm bảo cuộc sống, bà Giang chia sẻ.

Bà Nguyễn Thị Nhiễn, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Hòa Hưng Bắc cho biết, thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững và các chương trình mục tiêu quốc gia, địa phương triển khai nhiều giải pháp, mô hình sinh kế cho hộ nghèo, cận nghèo, người yếu thế như: Dạy nghề nông thôn; trao vốn, phương tiện sản xuất, cây con giống; hỗ trợ vay vốn phát triển sản xuất, lao động ở nước ngoài theo hợp đồng; vận động thành lập Tổ hợp tác, Hợp tác xã, Câu lạc bộ sản xuất kinh doanh…

Bà Nhiễn cũng cho hay, những năm gần đây, xã Vĩnh Hòa Hưng Bắc giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 3-4% mỗi năm. Đến cuối năm 2023, tỷ lệ hộ nghèo của xã còn 3,6%, đến thời điểm này, xã rà soát hộ nghèo còn khoảng 2,3%. Riêng Hợp tác xã thủ công mỹ nghệ là một trong những đơn vị hoạt động ổn định, góp phần cùng địa phương thực hiện hiệu quả chương trình giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho người dân. Thời gian tới, Ủy ban nhân dân xã đề xuất cấp trên tiếp tục hỗ trợ nguồn vốn và kho bãi để Hợp tác xã mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho nhiều người dân.

vna_potal_hop_tac_xa_dan_luc_binh_o_kien_giang_tao_viec_lam_cho_gan_400_lao_dong_nong_thon_7559783.jpg
Nhiều lao động nữ có nguồn thu nhập ổn định nhờ tham gia đan các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của HTX Thuận Phát (xã Vĩnh Hòa Hưng Bắc, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang). Ảnh: Văn Sĩ - TTXVN

Phát triển bền vững nghề đan lục bình

Tại xã Phong Đông, huyện Vĩnh Thuận, hơn 250 lao động nữ gắn bó thường xuyên với nghề đan các sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ cây lục bình.

Bà Lê Thị Kiêm Thoa, Giám đốc Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Hiểu Phát (đơn vị cung ứng khung đan và thu gom sản phẩm đan từ lục bình) cho biết, năm 2017, qua phương tiện thông tin đại chúng, bà thấy nghề đan các sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ cây lục bình tại Hậu Giang mang lại thu nhập ổn định, góp phần giải quyết việc làm cho phụ nữ địa phương. Trong huyện có sẵn nguồn nguyên liệu cây lục bình dày đặc trên sông, rạch nên bà đã tìm đến học hỏi.

Bà Thoa đan các sản phẩm từ lục bình, nhiều lao động ở hai xã Phong Đông, Vĩnh Phong tìm đến học hỏi và nghề đan lục bình phát triển dần đến nay.

Hiện nay, hơn 120 lao động nữ trong và ngoài xã Phong Đông tham gia đan lục bình; trong đó có khoảng 50 người chọn đây là công việc chính hằng ngày. Với giá gia công dao động từ 10.000- 50.000 đồng/sản phẩm, những lao động làm trong lúc nhàn rỗi, thu nhập khoảng 2,5 triệu đồng/tháng. Những người làm hằng ngày thu nhập khoảng 5 triệu đồng/tháng. Tuy nhiên, trong hoạt động của Hợp tác xã gặp khó khăn do chưa có kho bãi tập kết nguyên vật liệu và các sản phẩm; nguồn vốn còn hạn chế chưa đáp ứng được nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất nên rất cần sự quan tâm của cấp trên, bà Thoa chia sẻ thêm.Là một trong những người nhận gia công các sản phẩm từ lục bình hằng ngày, bà Lê Thị Đảm (ấp Ruộng Sạ 2, xã Phong Đông) cho biết, trước đây, bà đi làm thuê theo mùa vụ nên nguồn thu nhập bấp bênh. Từ năm 2019 đến nay, nhờ gắn bó với nghề đan lục bình, cuộc sống đã ổn định hơn.

Bà Nguyễn Thị Hòa Hiệp, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Kiên Giang cho biết, mô hình đan các sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ lục bình trước đây chủ yếu giải quyết lao động nhàn rỗi tại nhà để cải thiện thu nhập, nâng cao cuộc sống. Tuy nhiên, khoảng 5 năm trở lại đây, nhờ các Tổ hợp tác, Hợp tác xã, Câu lạc bộ đan lục bình được thành lập giúp việc tiêu thụ sản phẩm thuận lợi và nguồn thu nhập tăng lên, nhiều phụ nữ chọn làm nghề chính.

Theo bà Nguyễn Thị Hòa Hiệp, qua nhiều năm phát triển, nghề đan sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ lục bình được Hội Liên hiệp Phụ nữ đánh giá cao về hiệu quả bền vững trong tạo việc làm và góp phần cùng chính quyền địa phương đẩy nhanh thực hiện tiêu chí giảm nghèo, nâng cao thu nhập, xây dựng nông thôn mới. Nghề đan lục bình ở một số địa phương trong tỉnh đã được Ủy ban nhân dân tỉnh công nhận làng nghề truyền thống. Sự phát triển của các làng nghề và nghề truyền thống đã tạo việc làm đối với khoảng 8.500 lao động nhàn rỗi tại địa phương, nâng cao thu nhập cho người dân. Thu nhập bình quân khu vực nông thôn đến nay đạt hơn 74 triệu đồng/người/năm trong năm 2023.

Để nghề đan lục bình nói riêng, ngành nghề truyền thống nói chung phát triển bền vững, tạo việc làm, thu nhập ổn định cho hội viên phụ nữ trong thời gian tới, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh tiếp tục phối hợp với các ngành liên quan, chính quyền địa phương đẩy mạnh chuyển giao ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ trong sản xuất, quảng bá giới thiệu sản phẩm. Đồng thời, thực hiện đầy đủ chính sách hỗ trợ, nhất là hỗ trợ nguồn vốn vay ưu đãi; kết nối với doanh nghiệp tạo đầu ra ổn định cho các sản phẩm nhằm nâng cao giá trị, thu nhập của người lao động, bà Nguyễn Thị Hòa Hiệp cho biết thêm.

Văn Sĩ

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.