Thu nhập hàng trăm triệu đồng từ mô hình "con tôm ôm sò huyết"

Thu nhập hàng trăm triệu đồng từ mô hình "con tôm ôm sò huyết"

Với những lợi thế chi phí đầu tư thấp, mang lại lợi nhuận cao, thân thiện với môi trường, qua hơn 10 năm áp dụng, mô hình nuôi sò huyết xen canh với tôm, cua dưới tán rừng phòng hộ bãi bồi ở tỉnh Kiên Giang được người nuôi cũng như ngành chức năng đánh giá là mô hình phát triển mang tính bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Thu nhập hàng trăm triệu đồng từ mô hình "con tôm ôm sò huyết" ảnh 1Với diện tích rừng ngập mặn lớn, người dân vùng bán đảo ở Kiên Giang có thể tận dụng thể nuôi sò huyết tạo sinh kế ổn định. Ảnh: tienphong.vn

Kiên Giang là tỉnh ven biển với chiều dài trên 200 km và nhiều khu vực nuôi quảng canh tôm sú, tôm thẻ, tôm càng xanh kết hợp với nuôi cua biển. Đây chính là điều kiện rất thuận lợi cho việc phát triển mô hình nuôi sò huyết. Cũng do thiên nhiên ưu đãi nên chất lượng sò huyết ở Kiên Giang rất được thị trường ưa chuộng, giá bán cũng cao hơn so với một số địa phương trong khu vực.

Hiện nay, mô hình nuôi sò huyết kết hợp với tôm sú, cua biển trong vuông tôm quảng canh dưới tán rừng phòng hộ bãi bồi ở Kiên Giang tập trung chủ yếu ở các xã: Nam Yên, Nam Thái A, Tây Yên thuộc huyện An Biên; các xã Tân Thạnh, Đông Hưng, Vân Khánh Tây của huyện An Minh với diện tích trên 6.200 ha.

Là một trong những nông dân nhiều năm gắn bó và thành công với mô hình nuôi xen canh sò huyết với tôm sú, cua biển dưới tán rừng phòng hộ ở xã Tân Thạnh, huyện An Minh (Kiên Giang), ông Lê Hoàng Quân cho biết, gia đình canh tác 2,7ha. Sản lượng sò huyết mỗi năm thu về khoảng 3 tấn, sau khi trừ chi phí, lợi nhuận hơn 200 triệu đồng.

Theo kinh nghiệm của ông Quân, một trong những yếu tố thành công trong nuôi sò huyết là thả thưa. Cùng với đó là theo dõi nguồn nước dưới kênh đảm bảo không ô nhiễm mới lấy vào vuông và ông cũng thường xuyên sục bùn để tạo thức ăn tự nhiên cho loại nhuyễn thể này.

"Hơn chục năm qua, nhờ nuôi thêm sò huyết vợ chồng tôi mới nuôi được bốn người con học đại học và cất được căn nhà tường vững chắc để ở. Sau nhiều năm áp dụng, thấy hiệu quả ổn định nên gần đây vợ chồng tôi mua thêm 1,6 ha đất để phát triển mô hình. Ở đây chúng tôi hay nói đùa là mô hình con tôm "ôm" sò huyết", ông Quân chia sẻ.

Còn ông La Văn Thuận, xã Nam Thái A, huyện An Biên (Kiên Giang) cho biết, trước đây ông nuôi cua biển, nhưng những năm gần đây do tác động của biến đổi khí hậu, giá cua lại bấp bênh làm cho hiệu quả kinh tế ngày càng giảm nên ông cũng một số nông dân địa phương có ý định chuyển đổi sang mô hình nuôi khác.

Trong lúc loay hoay chưa biết thay thế bằng vật nuôi nào thì hộ ông Thuận cùng một số nông dân trong xã được hỗ trợ từ Dự án Chống chịu khí hậu tổng hợp và sinh kế bền vững Đồng bằng sông Cửu Long, ông và một số hộ dân đã chuyển sang nuôi sò huyết dưới tán rừng.

Ông Thuận cũng cho hay, nhờ tham gia dự án, được tập huấn kỹ thuật chọn con giống, xử lý nguồn nước, đồng thời được hỗ trợ 50% tiền con giống, chế phẩm sinh học, dụng cụ đo môi trường… nên mô hình đạt hiệu quả cao.

"Hiện tại, sò huyết cỡ lớn, tầm 80 con/kg hiện có giá 100.000 đồng/kg; loại vừa từ 100 con/kg bán giá 85.000 đồng/kg. Gia đình tôi nuôi 2ha, thời gian nuôi trung bình từ 10 - 12 tháng là thu hoạch, lợi nhuận từ sò huyết khoảng 100 triệu đồng/năm", ông Thuận chia sẻ.

Theo ông Trang Minh Tú, Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện An Biên, huyện có bờ biển dài 22km, với hơn 5.200ha đất bãi bồi ven biển là điều kiện thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản, trong đó có sò huyết.

Hiện nay, diện tích thả nuôi sò huyết của huyện khoảng 5.100 ha, bao gồm cả diện tích nuôi sò huyết ở rừng phòng hộ ven biển. Năm 2022, sản lượng sò huyết nuôi của huyện đạt trên 16.000 tấn. Những năm qua, cùng với tôm, cua, mô hình nuôi sò huyết dưới tán rừng giúp cải thiện thu nhập, sinh kế ổn định, giúp hàng trăm hộ vươn lên khá, giàu.

"Bên cạnh mang lại lợi nhuận từ 50 đến 60 triệu đồng/ha, các mô hình nuôi sò huyết còn tạo công ăn việc làm cho hàng trăm người dân ở địa phương với nguồn thu nhập ổn định từ 8 - 9 triệu đồng/tháng. Đặc biệt là người dân đã thấy được lợi ích, hiệu quả của công tác bảo vệ rừng kết hợp với nuôi trồng thủy sản, góp phần cùng địa phương làm tốt công tác bảo vệ rừng phòng hộ", ông Trang Minh Tú nhấn mạnh.

Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện An Biên cũng cho hay, để phát triển tiềm năng bãi bồi ven biển, đồng thời thực hiện đề án nuôi biển của UBND tỉnh Kiên Giang, đơn vị đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện ban hành kế hoạch triển khai đề án nuôi biển phát triển bền vững đến năm 2030, trong đó có đề ra các lộ trình và giải pháp.

Theo đó, huyện tiếp tục sắp xếp lại các vị trí hộ nuôi, tổ chức hướng dẫn hộ nuôi đăng ký thủ tục nuôi theo quy định của nhà nước về cho thuê mặt nước bãi bồi ven biển để nuôi trồng thủy sản; xây dựng các mô hình phát triển bền vững nuôi sò huyết, ứng dụng khoa học kỹ thuật để người nông dân nhân rộng mô hình, gắn với phát triển nâng cao chất lượng đạt chuẩn OCOP nhằm nâng cao giá trị kinh tế của sò huyết được nuôi trên địa bàn.

Ngành đề xuất và triển khai các nhóm giải pháp phát triển ổn định nghề nuôi sò huyết thương phẩm theo hướng bền vững như: quy hoạch vùng nuôi, giải pháp khoa học, công nghệ và khuyến ngư, dịch vụ hậu cần, chính sách vốn, thị trường…

Theo ông Nguyễn Minh Trí, Phó Giám đốc phụ trách Ban Quản lý rừng Kiên Giang, diện tích rừng phòng hộ ven biển tỉnh gần 4.540 ha. Rừng phòng hộ ven biển của tỉnh đóng vai trò quan trọng trong phòng hộ, bảo vệ đê biển, chống sạt lở. Nhằm khuyến khích việc trồng và bảo vệ rừng, người dân được nhận giao khoán đất rừng phòng hộ để trồng 60% diện tích cây mắm và khai thác 40% diện tích mặt nước để nuôi tôm, cua và các loại nhuyễn thể hai mảnh vỏ như nghêu, sò huyết…

Năm 2011, tỉnh ban hành quy định về trồng, bảo vệ rừng và sử dụng rừng phòng hộ ven biển. Tính đến nay, tỉnh đã giao khoán cho 1.905 hộ dân thực hiện trồng rừng và khai thác diện tích mặt nước nuôi thủy sản. Đối với phần rừng phòng hộ ven biển thuộc địa bàn huyện An Minh và An Biên có chiều dài 60 km, với diện tích trên 4.000 ha có điều kiện tự nhiên thích hợp để nuôi sò huyết.

"Thực hiện quyết định của UBND tỉnh Kiên Giang, Ban Quản lý rừng Kiên Giang từng bước khôi phục và phát triển rừng phòng hộ ven biển, giao khoán cho hộ dân và tổ chức bảo vệ, phát triển rừng theo mô hình sản xuất lâm-ngư kết hợp. Hầu hết các hộ trồng rừng kết hợp nuôi cá, cua, tôm, sò huyết đều cho thu nhập khá. Qua đó, nâng cao ý thức bảo vệ rừng phòng hộ, góp phần hạn chế sạt lở đất, ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng", ông Nguyễn Minh Trí cho biết thêm.

Theo ông Nguyễn Văn Hiển, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Kiên Giang, sò huyết nuôi không cần cho thức ăn mà chủ yếu ăn từ việc lọc bùn, bả, các vi sinh vật hữu cơ có trong môi trường tự nhiên. Việc nuôi sò dưới tán rừng phòng hộ cũng góp phần cải tạo môi trường nước, bảo vệ môi trường sinh thái bền vững và giữ rừng, thích ứng với biến đổi khí hậu đang ngày một tác động lớn ở vùng bán đảo Cà Mau.

Để nghề nuôi sò huyết phát triển bền vững, tỉnh xây dựng và hoàn thiện mạng lưới quan trắc, cảnh báo môi trường, phòng chống dịch bệnh trong vùng nuôi thủy sản để kịp thời khuyến cáo người dân thả nuôi hiệu quả. Đồng thời, tăng cường quản lý và bảo vệ các bãi giống thủy sản tự nhiên ven biển; tổ chức khai thác giống các loài nhuyễn phù hợp theo mùa vụ để cung ứng cho người nuôi gắn với bảo vệ, tái tạo nguồn lợi thủy sản; hoàn thiện hệ thống công trình thủy lợi để chủ động cấp nước; nâng cấp đê bao, bờ bao ở các vùng nuôi trồng thủy sản tập trung; hoàn chỉnh hệ thống cống điều tiết nước chủ động ở các vùng tập trung để phục vụ sản xuất của nông dân.

Văn Sĩ

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.