Tại buổi thăm, chúc mừng tại chùa Đơm Pôn (chùa Kim Cấu, xã Vĩnh Trạch, tỉnh Cà Mau) và chùa Prêk Chrou (chùa Xiêm Cán, phường Hiệp Thành) ngày 9/10, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Cà Mau Phạm Văn Thiều đã gửi lời chúc đến các vị sư sãi, Ban Quản trị các chùa cùng toàn thể đồng bào Khmer; đồng thời tin tưởng đồng bào Khmer Cà Mau sẽ tiếp tục nỗ lực vươn lên trong lao động sản xuất, cùng Đảng bộ và chính quyền địa phương thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển.
Theo Chủ tịch HĐND tỉnh Cà Mau, công tác an sinh xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số luôn được tỉnh đặc biệt chú trọng. Nhờ sự đồng lòng của toàn quân và toàn dân, tình hình kinh tế - xã hội của Cà Mau tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá.
Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Phạm Văn Thiều tặng quà cho Đại đức Thạch Thương, Trụ trì chùa Đơm Pôn (chùa Kim Cấu, xã Vĩnh Trạch) nhân dịp lễ Sene Dolta.
Chung tay cùng chính quyền, đồng bào Khmer tại các phum, sóc ở Cà Mau không ngừng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để nâng cao thu nhập, tích cực giữ gìn bản sắc văn hóa. Tại xã Hưng Hội, chính quyền và các đoàn thể đã chủ động hỗ trợ người dân, nhất là hộ nghèo, cận nghèo được tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính sách để chuyển đổi mô hình sản xuất.
Ông Ký Trọng Nghĩa, Phó Chủ tịch UBND xã Hưng Hội cho biết, nhờ sự đồng hành kịp thời từ các cấp, bà con đã chủ động chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và dịch vụ. Đến nay, đời sống vật chất lẫn tinh thần của người dân ngày càng khởi sắc.
Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Phạm Văn Thiều tặng quà các vị sư sãi tại chùa Prek Chrou (Chùa Xiêm Cán, phường Hiệp Thành (tỉnh Cà Mau) nhân lễ Sen Đôn-ta.
Là hộ thụ hưởng nguồn vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội, ông Thạch Ếch (ngụ ấp Nước Mặn, xã Hưng Hội) chia sẻ: “Gia đình tôi đã đầu tư mua vỏ lãi để đưa, đón khách du lịch tham quan. Nhờ có nguồn thu nhập ổn định, gia đình có điều kiện sửa sang nhà cửa và mở rộng kinh doanh”.
Còn ông Danh Sen, thành viên Ban quản trị chùa Đơm Pôn nhấn mạnh, chung tay cùng cấp chính quyền địa phương, bản thân và các thành viên trong bổn tự luôn phát huy tinh thần đoàn kết, xây dựng phum, sóc ngày càng phát triển. Thông qua các dịp lễ, Tết tại chùa, các thành viên tăng cường tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước đến bà con phật tử; cập nhật các thông tin thời sự về đời sống kinh tế để bà con được biết và làm theo, xứng đáng trở thành các công dân tốt, gương mẫu tại địa phương.
Bà Đỗ Ái Lanh, Phó Chủ tịch UBND phường Hiệp Thành, trao quà đến các hộ gia đình chính sách trên địa bàn nhân dịp lễ Sene Dolta 2026.
Hòa thượng Dương Quân, Phó Chủ tịch Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước tỉnh Cà Mau, Trụ trì chùa Prêk Chrou nhấn mạnh rằng, trong thời gian qua, tỉnh Cà Mau luôn dành sự quan tâm đối với đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số nói chung, đồng bào dân tộc Khmer nói riêng. Đồng bào dân tộc Khmer tại các phum, sóc không ngừng nỗ lực phấn đấu vươn lên, tích cực tham gia các phong trào của địa phương, chấp hành các quy định, pháp luật của Đảng, Nhà nước.
Đoàn công tác Tỉnh ủy Cà Mau thăm và chúc mừng sư sãi tại chùa Prek Chrou (Chùa Xiêm Cán, phường Hiệp Thành, tỉnh Cà Mau).
Về công tác triển khai chính sách, ông Lương Văn Pho, Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Cà Mau cho biết, nhân dịp lễ Sene Dolta, Sở phối hợp với chính quyền địa phương rà soát, lập danh sách hỗ trợ bảo đảm đúng đối tượng, công khai, minh bạch. Đối với các hộ khó khăn, thiếu sinh kế hay nhà ở, ngành chức năng tiếp tục rà soát nhu cầu để tham mưu thực hiện chính sách an sinh xã hội kịp thời, không chỉ trong dịp lễ, Tết.
Tên tự gọi: Người Khmer.
Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.
Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.
Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.
Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.
Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.
Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.
Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.
Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).
Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.
Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Theo cema.gov.vn