Tìm hướng sản xuất và tiêu thụ thanh long bền vững

Tìm hướng sản xuất và tiêu thụ thanh long bền vững

Sáng 21/2, tại thành phố Phan Thiết (Bình Thuận), Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan chủ trì Hội nghị Tình hình sản xuất và tiêu thụ thanh long. Tham dự hội nghị có lãnh đạo Cục Trồng trọt, lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hiệp hội, doanh nghiệp sản xuất thanh long tại 3 tỉnh: Bình Thuận, Long An và Tiền Giang.

Tìm hướng sản xuất và tiêu thụ thanh long bền vững ảnh 1Quang cảnh Hội nghị. Ảnh: Nguyễn Thanh/TTXVN

Tiêu thụ gặp khó

Theo Cục trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), hiện nay, cả nước có hơn 64 nghìn ha trồng cây thanh long tại hầu hết các tỉnh thành; trong đó, ba địa phương có diện tích sản xuất thanh long chính gồm: Bình Thuận (33 nghìn ha), Long An (gần 12 nghìn ha), Tiền Giang (9,6 nghìn ha).

So với năm 2015, sản lượng thanh long cả nước năm 2021 đã tăng gấp đôi với gần 1,4 triệu tấn. Giá trị xuất khẩu thanh long Việt Nam năm 2020 đạt hơn 1 tỷ đô (tăng gấp 2,5 lần so với năm 2015).

Ông Lê Thanh Tùng, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt, sản xuất thanh long năm 2021 và những tháng đầu năm 2022 đối mặt với nhiều khó khăn. Dịch COVID- 19 đã gây ảnh hưởng lớn đến xuất khẩu thanh long sang thị trường Trung Quốc. Giá thu mua thanh long trong nước giảm sâu, có thời điểm thanh long ruột trắng chỉ còn 2- 3 nghìn đồng/kg, thanh long ruột đỏ 3- 5 nghìn đồng/kg. Thực tế chỉ có những vùng, những đơn vị nào liên kết sản xuất, tiêu thụ tốt thì mới tiêu thụ ổn định.

Trong quý I/2022, ước sản lượng thanh long các tỉnh trồng lớn phía Nam khoảng 247 nghìn tấn; trong đó, tháng 2 khoảng 67 nghìn tấn và tháng 3 khoảng 63 nghìn tấn. Hiện nay, với chính sách “Zero COVID- 19”, Trung Quốc tiếp tục kiểm soát chặt chẽ dịch bệnh COVID-19, thông quan hàng hóa qua cửa khẩu chậm, làm giảm giá thành thu mua trong nước. Một số nông dân đã tạm dừng sản xuất rải vụ thanh long để tránh rủi ro.

Ông Mai Kiều, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Thuận cho biết, cây thanh long được xác định là cây lợi thế và đặc sản của tỉnh với diện tích 33 nghìn ha, sản lượng đạt 700.000 tấn/năm. Sản xuất thanh long đóng một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn của tỉnh, với hơn 30 nghìn hộ tham gia sản xuất, thu mua, sơ chế xuất khẩu thanh long, hằng năm tạo việc làm thường xuyên cho từ 70 – 80 nghìn lao động.

Tuy nhiên trong năm 2021 đến nay, giá thu mua thanh long giảm sâu do các doanh nghiệp chỉ thu mua cầm chừng, giá mua thanh long ruột trắng tại vườn khoảng từ 3.000 – 5.000 đồng/kg mặc dù là hàng trái vụ, chong đèn.

Cũng như Bình Thuận, tại tỉnh Tiền Giang, Long An, tình hình tiêu thụ sản xuất thanh long cũng gặp không ít khó khăn. Vì trái thanh long phụ thuộc nhiều vào thị trường Trung Quốc, chiếm tới hơn 90% lượng xuất khẩu và xuất khẩu theo đường tiểu ngạch nên khi phía Trung Quốc siết chặt thì sản xuất gặp nhiều khó khăn, hàng hóa ứ đọng.

Thêm vào đó, bởi vì dễ trồng, dễ thích nghi và lợi nhuận tăng gấp nhiều lần so với một số loại cây trồng nên người dân ở các địa phương, nhất là các tỉnh phía Nam mở rộng sản xuất nhanh, manh mún, nhỏ lẻ và tự phát. Điều này tạo ra áp lực lớn cho tình hình tiêu thụ trái thanh long, nhất là trong tình hình khó khăn như hiện nay.

Theo nhìn nhận của các đại biểu tham dự hội nghị, ngoài những thách thức từ bên ngoài, cây thanh long còn đối mặt với nhiều thách thức từ bên trong sản xuất như: liên kết sản xuất theo chuỗi chưa nhiều, chưa chặt chẽ, phần lớn nông dân bán qua thương lái, giá cả không ổn định; chế biến các sản phẩm từ thanh long và hệ thống bản quản và kho lạnh còn ít, một số vùng thiếu cơ sở hạ tầng…

Phát triển theo hướng bền vững

Từ nhìn nhận, đánh giá thực trạng, nhiều giải pháp đã được đề xuất để giải quyết bài toán tiêu thụ thanh long hiện nay cũng như hướng tới phát triển bền vững trong thời gian tới.

Để giải quyết vấn đề trước mắt, ông Huỳnh Cảnh, Phó Chủ tịch Hiệp Hội thanh long Bình Thuận kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Bộ Công Thương, các đơn vị liên quan đàm phán với phía Trung Quốc sớm thông quan cửa khẩu để đẩy mạnh tiêu thụ thanh long cho bà con nông dân.

Khi bị ách tắc tại đường bộ, nhiều đơn vị đã chuyển hướng đường biển tuy nhiên điều này làm tăng giá thành khi xuất khẩu, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp xuất khẩu cũng như nông dân sản xuất thanh long. Vì vậy, Bộ cần có kế hoạch, xây dựng phương án lựa chọn phương thức xuất hàng chính ngạch qua đường biển, đường sắt.

Ông Lê Tuấn Phong, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận đề xuất, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần đưa cây thanh long vào nhóm cây chủ lực quốc gia từ đó có chiến lược, chính sách phát triển bền vững cũng như chiến lược quảng bá trái thanh long trong và ngoài nước.

Đồng thời, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với bộ, ngành liên quan xây dựng chiến lược đánh giá tiềm năng, nhu cầu tiêu thụ thanh long trên cơ sở nghiên cứu khoa học, đảm bảo nguyên tắc cung cầu để các địa phương có cơ sở quy hoạch, phát triển. Bên cạnh đó, chỉ đạo các cơ quan chức năng cập nhật thông tin, chính sách tiêu thụ ở các nước để kịp thời phổ biến đến địa phương; định hướng tăng cường chế biến, giải quyết tình trạng ứ đọng trái khi gặp khó khăn khi tiêu thụ; đầu tư kho lạnh tại các cửa khẩu để lưu trữ hàng bị ùn ứ tại cửa khẩu…

Theo Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang Phạm Văn Trọng, để giúp người nông dân tiêu thụ được nông sản ở góc độ địa phương rất khó thực hiện vì vậy địa phương cần có sự hỗ trợ, kết nối từ Trung ương, các bộ, ngành liên quan về nhận định tình hình, dự báo thị trường đến việc hoạch định chính sách, cơ chế hướng dẫn, bộ tiêu chí sản xuất đáp ứng nhu cầu thị trường…

Nhiều ý kiến cho rằng, thanh long hiện là loại trái cây có lợi thế cạnh tranh cao trong số các loại trái cây ở Việt Nam, đồng thời cũng được xếp vào nhóm mặt hàng trái cây xuất khẩu chủ lực. Tuy nhiên, hiện nay Trung Quốc cũng đã mở rộng nhiều diện tích trồng thanh long, lợi thế thị phần của thanh long Việt Nam tại thị trường này không còn như trước nữa. Để duy trì việc tiêu thụ thanh long được ổn định, lâu dài, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần mở rộng thị trường tiêu thụ thanh long, tránh lệ thuộc vào một thị trường.

Phát biểu kết luận hội nghị, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan nhấn mạnh, cần phải thay đổi tư duy tiếp cận, tổ chức lại sản xuất thanh long và tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Mọi sự thay đổi đều khó khăn nhưng không thay đổi còn khó khăn hơn nữa.

Theo Bộ trưởng Lê Minh Hoan, nếu như trước đây, nông dân sản xuất với tư duy chỉ quan tâm tới sản lượng, ước chừng sản xuất thì nay phải thay đổi sang tư duy kinh tế. Để phát triển bền vững, các đại phương phải tổ chức lại sản xuất thanh long bắt đầu từ cấp xã theo hướng hiểu rõ về sản xuất đến nắm rõ nhu cầu thị trường, hiểu rõ từng thị trường, đối tác và đối tượng cạnh tranh.

Các địa phương phải thống kê, nắm chắc diện tích sản xuất, số lượng người dân sản xuất thanh long, từ đó tuyên truyền, vận động, hướng dẫn người nông dân, các đơn vị, doanh nghiệp tham gia liên kết sản xuất, tiêu thụ, tránh tình trạng “mạnh ai nấy làm” theo kiểu manh mún, nhỏ lẻ, tự phát; từng bước nâng cao giá trị trái thanh long, từ đó chuyển đổi từ xuất khẩu tiểu ngạch sang chính ngạch.

Chia sẻ khó khăn với các tỉnh đang gặp khó khăn trong tiêu thụ thanh long, Bộ trưởng Lê Minh Hoan cho biết, thanh long là câu chuyện điển hình nhưng Việt Nam còn nhiều nông sản khác cũng đang nằm trong thách thức vô cùng lớn từ thị trường bên ngoài, cũng như thách thức bên trong sản xuất, liên kết, hợp tác. Vì vậy, các địa phương, ngành hàng cần xây dựng hệ sinh thái riêng trên từng ngành hàng, từng loại nông sản.

Hồng Hiếu

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.