Tôm – Lúa: Mô hình sản xuất hiệu quả và bền vững

Tôm – Lúa: Mô hình sản xuất hiệu quả và bền vững
Mô hình sản xuất hiệu qủa và bền vững
Theo Cục Trồng trọt, Bộ NN&PTNT, trong khoảng 5 năm gần đây hệ thống canh tác tôm - lúa đã phát triển mạnh ở nhiều tỉnh ven biển ĐBSCL, từ vài chục ngàn ha năm 2005 đã tăng lên khoảng 160.000 ha năm 2011, có thể đạt 180.000 ha vào năm 2015 và 200.000 ha năm 2020. Tổng kết thực tế sản xuất ở nhiều địa phương cho thấy mô hình canh tác tôm – lúa có hiệu quả và tính bền vững cao.
Hệ thống canh tác tôm – lúa có tính thân thiện môi trường cao hơn các hệ thống chuyên canh vì dễ dàng áp dụng giải pháp “quản lý tổng hợp”, giảm nhu cầu sử dụng các loại hóa chất trong sản xuất lúa, ít gây hại đến môi trường tự nhiên, phù hợp với các yêu cầu thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (GAP).

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Mô hình này sản xuất ra nhiều sản phẩm - ngoài sản phẩm chính là lúa và tôm còn có thể tận dụng nguồn lực để xen canh các loại cây trồng, thủy sản khác. Vì vậy, nó bền vững hơn về mặt kinh tế và hiệu quả đầu tư, ổn định và tăng thu nhập cho người sản xuất trước những ảnh hưởng tiêu cực khi có biến động giá cả, thị trường.

Mô hình canh tác tôm – lúa có độ đa dạng loài cao hơn mô hình đơn canh. Theo qui luật tự nhiên, mô hình sản xuất càng đa dạng loài thì mức độ bền vững càng cao, vì các đối tượng khác nhau có thể phát huy các yếu tố tích cực, hạn chế yếu tố tiêu cực của nhau như cải tạo đất, trừ sâu hại và cắt đứt vòng đời dịch bệnh, v.v… trong quá trình sinh trưởng và phát triển.
Về mức độ tái sử dụng tài nguyên sinh học, sau một vụ tôm, các chất thải được cây lúa chuyển hóa và hấp thụ, góp phần hạn chế lượng phân bón, thuốc trừ sâu trong giai đoạn đầu. Ngược lại, sau một vụ lúa, các loại rơm rạ bị phân hủy tạo môi trường sống và nguồn thức ăn tự nhiên cho tôm trong vụ nuôi tiếp theo. Nhờ đó, mô hình này góp phần giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất và lợi nhuận.
Báo cáo tại hội nghị tôm – lúa lần thứ 3 với chủ đề “Phát triển lúa và xây dựng thương hiệu gạo trên vùng lúa luân canh tôm ven biển ĐBSCL” tổ chức tại Sóc Trăng ngày 5/10/2012 cho biết, mô hình này mang lại lợi nhuận trung bình cao hơn từ 15 – 30% so với độc canh lúa hoặc tôm.
Sản phẩm của mô hình tôm – lúa có thể thỏa mãn nhiều tiêu chí chất lượng nghiêm ngặt trong sản xuất hàng hóa cao cấp, đòi hỏi an toàn cao, hiệu quả kinh tế lớn và có nhiều cơ hội để xây dựng và khẳng định thương hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đặc trưng của vùng.
Ngoài ra, canh tác lúa trên vùng nuôi tôm là cách rửa mặn tích cực vào mùa mưa, hạn chế quá trình mặn hóa, kéo dài tuổi thọ sử dụng đất. Nếu chuyên canh tôm lâu dài, nước mặn sẽ ngấm sâu vào tầng đất dưới, làm đất bị thoái hóa, không thể sử dụng cho các mục đích trồng trọt sau này.
Đẩy mạnh áp dụng mô hình vào thực tiễn
Hệ thống canh tác nông ngư kết hợp, đưa NTTS vào các hệ thống nông nghiệp (cây trồng) truyền thống đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đánh giá là hệ thống canh tác bền vững. Mô hình canh tác tôm – lúa chính là việc ứng dụng những kiến thức ấy để biến cái khó lâu đời của người nông dân trồng lúa vùng ven biển ĐBSCL, vì nước mặn xâm nhập vào đồng ruộng trong mùa khô, thành nguồn tài nguyên quí giá để phát triển sản xuất và cải thiện đời sống.
Sự độc đáo cũng như lợi ích nhiều mặt của hệ thống này đã thu hút nhiều nhà khoa học tham gia các đề tài, dự án nghiên cứu. Hàng loạt hội thảo quốc tế và quốc gia về những khía cạnh liên quan đến mô hình này như tự nhiên, kinh tế, xã hội, chính sách, … đã được tổ chức, đem lại rất nhiều kiến thức có giá trị.
Hiện nay, các tỉnh có diện tích canh tác tôm – lúa lớn như Cà Mau, Bạc Liêu, …đã có qui hoạch, định hướng và dự án phát triển đến năm 2015 - 2020, đồng thời có những giải pháp để phát triển hệ thống này một cách bền vững. Riêng đối với Sóc Trăng, phát huy lợi thế lợi thế so sánh về tự nhiên, kỹ thuật và đặc biệt là giống lúa thơm, ngon được thị trường ưa chuộng, tỉnh đã qui hoạch phát triển vùng lúa trên đất nuôi tôm đạt chứng nhận GlobalG.A.P với thương hiệu gạo Ngọc Đồng. Còn tỉnh Trà Vinh, với đặc điểm vùng tôm - lúa phát triển mạnh trên cù lao Long Hòa (huyện Châu Thành) giữa sông Tiền, cũng đã xây dựng vùng canh tác đạt chứng nhận gạo hữu cơ dành cho thị trường XK cao cấp từ nhiều năm qua.
PGS.TS Phạm Văn Dư – Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ NNPTNT) cho biết: “Có thể nói không nơi nào trên thế giới có điều kiện thuận lợi để phát triển hệ thống canh tác tôm – lúa như ở ĐBSCL. Đây là một hệ thống đặc thù của vùng ven biển Nam Bộ và có nhiều lợi thế để phát triển ổn định. Tiềm năng mở rộng hệ thống canh tác tôm – lúa ở khu vực này còn rất lớn, quy mô sản xuất có thể đạt đến 200.000 ha, đóng góp hằng năm khoảng 800.000 tấn lúa”.
Để phát huy hơn nữa những tiềm năng tự nhiên, bên cạnh hệ thống canh tác đã có, cần xây dựng định hướng và qui hoạch chi tiết hơn về vùng sản xuất, giống lúa, tôm, tiêu chuẩn chất lượng, thương hiệu sản phẩm; đồng thời kết hợp các đối tượng rau, màu và các loại thủy sản khác để nâng cao thu nhập cho người sản xuất.
Phát biểu tại hội nghị, Thứ trưởng NN&PTNT Bùi Bá Bổng cho biết, Bộ đã có kế hoạch phát triển thủy lợi phục vụ vùng sản xuất tôm - lúa. Thứ trưởng cũng lưu ý quy hoạch phát triển vùng tôm - lúa phải có sự khác biệt với quy hoạch các vùng chuyên canh lúa hoặc tôm, nhằm tạo ra sản phẩm tôm, lúa ở cấp chất lượng cao. Cần tính toán một cách khoa học nhất để phát huy ưu thế của mô hình tôm – lúa nhằm hạn chế sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật; đồng thời lựa chọn những giống lúa thơm chất lượng cao để thu giá trị cao nhất, không chạy theo năng suất, ...
Với sự quan tâm của cả các cơ quan nhà nước trung ương, địa phương, các nhà khoa học, các DN và nông dân, chắc chắn mô hình canh tác tôm – lúa sẽ có bước phát triển đột phá, tạo ra một bước ngoặt mới trong phát triển kinh tế ở vùng ven biến ĐBSC.

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.