Trà Vinh đẩy mạnh nuôi tôm công nghệ cao do hiệu quả vượt mong đợi

Trà Vinh đẩy mạnh nuôi tôm công nghệ cao do hiệu quả vượt mong đợi
Nuôi tôm sạch theo mô hình lót bạt đáy cho thu nhập cao. Ảnh: Lê Văn Sen - TTXVN
Nuôi tôm sạch theo mô hình lót bạt đáy cho thu nhập cao. 
Ảnh: Lê Văn Sen - TTXVN
Xây “nền móng” cho nuôi tôm công nghệ cao Năm 2017, năm đầu tiên ở tỉnh Trà Vinh mô hình nuôi tôm công nghệ cao vào sản xuất. Mô hình do Công ty cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam trực tiếp đầu tư nuôi và hợp đồng hỗ trợ kỹ thuật cho gần 100 hộ dân trong tỉnh thực hiện nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh, với tổng diện tích 150 ha. Tuy năm đầu tiên áp dụng kỹ thuật tiên tiến, công nghệ cao vào sản xuất, nhưng hiệu quả về năng suất, lợi nhuận tăng gấp 10 lần so với phương thức nuôi tôm công nghiệp mà nông dân trong tỉnh Trà Vinh đã thực hiện trong nhiều năm qua. Cụ thể, mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh cho sản lượng 50 - 55 tấn/ha, lợi nhuận đạt bình quân khoảng 2 tỷ đồng/ha. Ông Phan Văn Hận, ở xã Mỹ Long Nam, huyện Cầu Ngang là một trong số hộ được Công ty cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam hỗ trợ kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng công nghệ cao, với diện tích 3.200m2, mật độ thả tôm giống 178 con/m2. Theo ông Phan Văn Hận, mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng công nghệ cao chỉ có 2 điều kiện được xem là “khó khăn” đó là việc người nuôi phải có diện tích đất rộng và nguồn vốn lớn để đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật ban đầu. Bình quân, để xây dựng 1 ha nuôi tôm thẻ công nghệ cao cần khoảng 3 tỷ đồng để xây dựng, gồm hệ thống ao lắng nước đầu vào, ao chứa và xử lý nước thải, nhà lưới bao phủ các ao tôm, lót bạt dưới đáy ao, lắp đặt hệ thống phao, ôxy đáy, thức ăn, thuốc thủy sản, con giống phải đảm bảo sạch bệnh. Trong quá trình nuôi, việc cho tôm ăn hoàn toàn được thực hiện bằng máy tự động để tôm ăn liên tục, hạn chế thức ăn nằm lâu tan trong nước,… Với phương cách này đạt tối ưu tính an toàn, môi trường nước rất ít bị ô nhiễm, năng suất, tôm lớn đồng đều và chất lượng tôm nuôi vượt trội so với nuôi tôm thâm canh trong ao đất. Kỹ sư thủy sản Trịnh Thị Loan, ở xã Mỹ Long Nam, huyện Cầu Ngang, người có 2 năm liên tục thành công, thu lợi nhuận lớn từ việc nuôi tôm ao nổi lót bạt siêu thâm canh công nghệ cao. Theo kỹ sư Loan, mô hình nuôi tôm theo phương pháp hiện đại này tính hiệu quả rất bền vững. Nhờ lót bạt đáy ao, thành ao nên hạn chế mức thấp nhất những mầm bệnh từ trong đất lây nhiễm cho tôm; giúp người nuôi chủ động quản lý tốt  môi trường nước về độ mặn, độ pH. Với tổng diện tích 1,5 ha đất của gia đình được kỹ sư Loan bố trí gồm 8 ao nuôi, mỗi ao có diện tích 1.600 m2 cùng một hệ thống ao trữ lắng lọc, ao xử lý nước thải tuần hoàn khép kín không xả thải ra môi trường. Năm 2018, với 8 ao nuôi, kỹ sư  Loan thu hoạch đạt năng suất  trên 40 tấn tôm thương phẩm/vụ. Năm 2019, theo ước tính của kỹ sư Loan, tổng thu hoạch 2 vụ nuôi, sản lượng tôm thẻ chân trắng thương phẩm thu được khoảng 100 tấn, trừ chi phí lợi nhuận hơn 5 tỷ đồng. Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Trà Vinh Phạm Minh Truyền đã từng khuyến cáo về tình hình thiệt hại trên tôm nuôi trong nhiều năm qua trên địa bàn tỉnh là do điều kiện nuôi tôm sử dụng ao đất. Sự ô nhiễm môi trường nuôi tôm ao đất rất lớn, nhất là nguồn nước, nền đất đáy ao nuôi do lâu ngày đã “ tích luỹ” mầm bệnh, các loại hoá chất, thuốc thú y thuỷ sản nên việc thả nuôi tôm sú, tôm thẻ chân trắng  theo hình thức ao đất đã không còn hiệu quả kinh tế cao, thường xảy ra rủi ro về dịch bệnh. Vì vậy, ngành nông nghiệp đã khuyến cáo người nuôi thuỷ sản dần chuyển sang ao nuôi được lót bạt ni-lon đáy ao, nếu hộ dân có điều kiện thì nên nuôi tôm ao nổi lót bạt siêu thâm canh công nghệ cao. Ông Phạm Minh Truyền cho biết, với hiệu quả về kinh tế vượt trội, sự bền vững cho nghề nuôi tôm, nên trong mùa vụ nuôi tôm vùng nước mặn, nước lợ năm 2019, toàn tỉnh Trà Vinh đã phát triển diện tích nuôi tôm ao nổi lót bạt siêu thâm canh công nghệ cao lên gần 400 ha. Đây được xem là “nền móng” để phát triển nghề nuôi tôm của tỉnh phát triển, đưa sản phẩm tôm Trà Vinh tăng kim ngạch xuất khẩu vào các thị trường khó tính như Bắc Mỹ, châu Âu và kể cả Hoa Kỳ.Hoạch định để phát triển Với điều kiện của một tỉnh ven biển, Trà Vinh được nhiều nhà khoa học, chuyên môn đánh giá là có nhiều tiềm năng để phát triển nghề nuôi trồng thủy sản, nhất là nghề nuôi tôm nước mặn và nước lợ, với diện tích lên đến 95.000 ha.  Tính đến nay, tổng diện tích nuôi tôm vùng nước mặn và lợ của tỉnh khoảng hơn 24.000 ha; trong đó, có 7.000 ha nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh. Sản lượng tôm nuôi mỗi năm đạt bình quân khoảng 35.000 tấn. Tuy sản lượng đạt khá, nhưng mức thu nhập bình quân 1 ha đất nuôi tôm của tỉnh hiện nay chỉ mới đạt từ 100 - 150 triệu đồng/ha. Nguyên nhân, phần lớn diện tích nuôi tôm trong tỉnh áp dụng mô hình nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh, qui mô nhỏ, thiếu ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến nên dễ bị rủi ro trước diễn biến bất lợi về thời tiết, môi trường nước. Chính vì vậy, tỉnh Trà Vinh đã hoạch định chương trình tái cơ cấu ngành thủy sản với mục tiêu đưa lĩnh vực nuôi tôm nước mặn và lợ trở thành ngành công nghiệp sản xuất mũi nhọn, bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường sinh thái; nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh của sản phẩm tôm; mang lại lợi ích cho người dân, doanh nghiệp và nền kinh tế tỉnh nhà. Cụ thể, giai đoạn 2017 – 2020, Trà Vinh phấn đấu đạt giá trị sản xuất tôm trên 8.700 tỷ đồng và giai đoạn 2021 - 2025 đạt trên 10.600 tỷ đồng. Tổng diện tích nuôi tôm nước lợ và mặn của toàn tỉnh đạt hơn 27.000 ha, tổng sản lượng tôm nuôi  đạt khoảng 87.000 tấn; trong đó, sản lượng tôm sú gần 18.650 tấn, tôm thẻ chân trắng đạt 51.990 tấn. Tốc độ tăng trưởng sản lượng tôm nuôi bình quân giai đoạn 2021 - 2025 là 5,34%/năm. Để đạt mục tiêu đề ra, Trà Vinh định hướng phát triển nuôi tôm nước mặn và lợ dựa trên khai thác tối đa lợi thế điều kiện tự nhiên, thích ứng trong điều kiện biến đổi khí hậu - xâm nhập mặn và lợi thế kinh nghiệm của người dân, chú trọng phát triển theo chiều sâu, gắn với việc quản lý chặt chẽ môi trường và an toàn vệ sinh thực phẩm. Mặt khác, tỉnh sẽ giảm dần phương thức nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh để thay vào đó là mô hình nuôi tôm công nghệ cao, phù hợp với đặc điểm từng vùng, thân thiện với môi trường, tạo ra sản phẩm có chất lượng cao. Theo đó, tỉnh sẽ huy động khoảng hơn 5.000 tỷ đồng ưu tiên đầu tư hạ tầng kỹ thuật về thủy lợi, điện sản xuất, quan trắc môi trường cho vùng quy hoạch nuôi tôm công nghệ cao. Chủ tịch UBND tỉnh Trà Vinh Đồng Văn Lâm nhận định, thị trường tiêu thụ, nhu cầu xuất khẩu tôm nuôi rất cao và ổn định nên người nuôi không phải e ngại về vấn đề đầu ra. Vì vậy, UBND tỉnh đã chỉ đạo sở, ngành, địa phương hỗ trợ hộ dân nuôi tôm về cơ sở hạ tầng, chính sách, hướng dẫn quy trình nuôi đảm bảo kỹ thuật. Ngành nông nghiệp tỉnh khảo sát và lập kế hoạch quy hoạch vùng nuôi đảm bảo hiệu quả và theo dõi sát tình hình nuôi tôm để hỗ trợ nông dân. Cùng với đó, UBND tỉnh Trà Vinh sẽ ưu tiên đầu tư cho 3 nhóm dự án phát triển nhằm thực hiện 25 dự án xây dựng kết cấu hạ tầng về thủy lợi, giao thông, điện sản xuất cho nghề nuôi tôm nước lợ và mặn với vốn đầu tư trên 3.000 tỷ đồng; đầu tư về cơ sở vật chất, tăng cường năng lực quản lý và hỗ trợ phát triển sản xuất cho nông dân và doanh nghiệp nuôi và chế chế biến tôm, vốn thực hiện 105 tỷ đồng; ưu đãi thu hút doanh nghiệp đầu tư cho 5 dự án sản xuất và chế biến, vốn đầu tư khoảng 1.650 tỷ đồng. Các địa phương trong tỉnh cần tăng cường công tác vận động khuyến khích các hộ dân nuôi tôm nhỏ lẻ tham gia thành lập tổ hợp tác, hợp tác xã nuôi tôm công nghệ cao để huy động về quỹ đất, nguồn vốn sản xuất. Đây cũng là một trong những yếu quan trọng để phát triển nghề nuôi tôm của tỉnh trở thành ngành công nghiệp sản xuất mũi nhọn, bền vững.
Phúc Sơn

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.