Vẻ đẹp trang phục người Hà Nhì ở đại ngàn Y Tý

Nằm ở độ cao 2.000m so với mực nước biển, xã Y Tý, huyện Bát Xát (Lào Cai) là nơi sinh sống chủ yếu của đồng bào Hà Nhì đen. Người Hà Nhì còn lưu giữ nhiều nét văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc, trong đó có trang phục truyền thống thể hiện giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật... cũng như phong tục, tập quán, sinh hoạt của cộng đồng, ước vọng về cuộc sống tốt đẹp.

Ngoài trồng lúa nước, người Hà Nhì đen còn tự tay trồng bông, dệt vải, thêu dệt những bộ trang phục đặc trưng của dân tộc mình. Trang phục người Hà Nhì đen có màu sắc đơn giản, nhã nhặn, chỉ với sự kết hợp của màu chàm đen, xanh và trắng thể hiện sự mộc mạc, mạnh mẽ của núi rừng. Tuy nhiên, hoa văn trang trí cũng cầu kỳ cùng nhiều phụ kiện tinh xảo.

101486472_291294498715945_3631781310505400423_n (1).jpg
Chỉ với màu sắc chàm đen, xanh và trắng, bộ trang phục người Hà Nhì đen vẫn toát lên vẻ đẹp riêng mộc mạc và mang nét núi rừng. Ảnh: Hải Ly

Trang phục của người Hà Nhì đen gồm: Áo, quần, yếm, khăn đội đầu, dây cuốn tóc, xà cạp.

Áo là thành tố quan trọng, sử dụng kỹ thuật khâu, thêu, ghép vải tạo thành hình hoa văn ấn tượng. Áo của nữ giới gồm áo dài và yếm. Áo được may tứ thân xẻ nách. Cài khuy bên nách phải. Thân áo trước ngắn hơn so với thân áo sau. Gấu áo được khâu gấp mép rộng, cắt hơi nhọn ở giữa vạt trước. Phần thân áo sau được cắt nhọn ở chính giữa giống hình con ong. Cổ áo là cổ tròn, đứng, thấp, được khâu viền bằng một dải vải màu khác. Hai bên cạnh nách áo khâu mỗi bên 4 cây hoa bằng chỉ màu xanh thẫm hoặc màu trắng. Những cây hoa khâu ghép bên trái mang tính chất trang trí, bên phải là khuy cúc để cài mặc áo.

102421748_291294188715976_8432043871914902917_n.jpg
Áo là thành tố quan trọng trong trang phục Hà Nhì đen sử dụng nhiều kỹ thuật mới có thể hoàn thành. Ảnh: Hải Ly

Yếm trên trang phục của phụ nữ được may bằng vải đen dài hơn áo che phần từ cổ xuống hết gấu áo. Nhìn vào sẽ thấy phần yếm dài bằng với tà áo thân sau. Nhìn tổng thể yếm gồm 2 phần: phần trên từ trên cổ đến ngang nách áo, thêu hoa văn trang trí. Phần dưới từ ngang nách đến gấu áo không trang trí hoa văn, chỉ có màu đen tràm của vải áo. Phần trên yếm được cắt theo hình vòng cung với 5 đoạn thẳng nối nhau. Yếm có hình lục lăng nhưng các cạnh không đều nhau. Cổ yếm được gắn cúc đồng hoặc đồng bạc trắng hình tròn để làm cúc cài. Dây yếm được đan bằng những sợi len màu, độ dài vừa bằng với vòng cổ. Trên yếm được thêu các họa tiết đính 4 cúc vải, 2 cúc hai bên thân yếm, 2 cúc ở phía trên.

IMG_5294 (1).JPG
Yếm là bộ phận trang phục được người Hà Nhì chú trọng nhất vì tập trung nhiều họa tiết và hoa văn. Ảnh: Hải Ly

Yếm là bộ phận trên trang phục được người Hà Nhì đen chú trọng thêu nhất. Vì vậy chiếc yếm càng đẹp càng chứng tỏ sự khéo léo của người tạo nên nó. Làm tăng sự duyên dáng cho người mặc.

Điểm nhấn trong trang phục của đồng bào Hà Nhì là chiếc khăn đội đầu cùng với bộ tóc giả. Thường thì tóc giả được làm từ sợi chỉ bông, chỉ len đã nhuộm chàm hoặc củ nâu khá cầu kỳ. Tùy theo lứa tuổi có bộ tóc giả và cách vấn tóc khác nhau.

IMG_5124.JPG
Người con gái Hà Nhì đen chưa lập gia đình sẽ có những chiếc mũ nhiều màu sắc rực rỡ trên đầu như những bông hoa. Ảnh: Hải Ly

Đối với cô gái chưa lập gia đình sẽ có chiếc mũ trang trí các loại chỉ màu xanh đỏ và hạt cườm, bộ tóc giả ở phần cuối được buộc thành ba chùm và giữa có một chùm nhiều màu sắc giống như bông hoa.

IMG_5130.JPG
Phụ nữ Hà Nhì đen có chồng sẽ không có chiếc mũ mà thay vào đó là chiếc khăn vuông. Ảnh: Hải Ly

Đối với phụ nữ có chồng, họ cũng có bộ tóc giả giống như của các cô gái trẻ nhưng không có chiếc mũ, thay vào đó là chiếc khăn vuông, trên cùng có mảnh khăn trang trí hoa văn ở hai bên và gắn các tua chỉ ở phần dưới. Điểm khác biệt lớn nhất của bộ tóc giả ở phụ nữ có chồng là có mành khăn có đính tua đuôi đội ở trên cùng với ý nghĩa đề giữ lại hồn vía, bắt buộc đối với phụ nữ khi họ tham dự các dịp lễ quan trọng trong cộng đồng.

IMG_3603.jpg
Người Hà Nhì đen rất tự hào với bộ trang phục truyền thống của mình và họ mặc thường xuyên để giữ gìn vẻ đẹp của dân tộc. Ảnh: Hải Ly

Trang phục của nam giới Hà Nhì rất đơn giản, chỉ gồm: khăn đội đầu, quần áo và dây lưng. Áo nam giới Hà Nhì ngày thường may kiểu xẻ nách và xẻ ngực, hẹp ngang, nẹp áo ngực cài vào nhau bằng nút vải, làm tôn lên vẻ khỏe khoắn. Quần được may theo kiểu “chân què” (đũng quần thấp, ống rộng). Khi mặc thường dùng dây lưng vải thắt chặt. Dây lưng không chỉ là vật để giữ quần xiết vào thân mà còn tạo dáng khỏe khoắn cho nam giới.

IMG_5120.JPG
Theo tập quán tâm linh của người Hà Nhì đen, chóp đầu là phần giữ hồn nên khi lấy chồng thì phải giữ chặt hồn bằng khăn đội đầu...Ảnh: Hải Ly

Bộ trang phục của đồng bào Hà Nhì đen thể hiện sự hòa hợp của thiên nhiên và con người, là nét đẹp văn hóa ăn sâu vào tiềm thức dân tộc, tạo nên một sắc màu riêng cho đồng bào Hà Nhì trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam.

Hải Ly

Hải Ly ((̣Báo ảnh Dân tộc và Miền núi))
Dân tộc Hà Nhì

Tên tự gọi: Hà Nhi gia.

Tên gọi khác: U Ní, Xá U Ní.

Nhóm địa phương: Hà Nhì, Cồ Chồ, Hà Nhì La Mí, Hà Nhì đen.

Dân số: 21.725 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến (ngữ hệ Hán-Tạng), gần với Miến hơn.

Lịch sử: Cư dân Hà Nhì đã từng sinh sống lâu đời ở nam Trung Quốc và Việt Nam. Từ thế kỷ thứ 8, thư tịch cổ đã viết về sự có mặt của họ ở Tây Bắc Việt Nam. Nhưng phần lớn tổ tiên người Hà Nhì hiện nay là lớp cư dân di cư đến Việt Nam khoảng 300 năm trở lại đây.

Hoạt động sản xuất: Người Hà Nhì sớm biết trồng lúa trên ruộng bậc thang. Họ giỏi việc khai khẩn tạo nên những thửa ruộng trên sườn núi dốc với những mương dẫn nước khéo léo. Họ quen dùng phân chuồng và phân tro trong canh tác lúa nước; đồng thời cũng làm nương cày hoặc nương cuốc để trồng ngô hoặc rau đậu, bầu, bí, bông, chàm...

Phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm theo lối chăn thả tự nhiên. Ðàn trâu nuôi thả rông trong rừng có đến hàng trăm con.

Nghề trồng bông, dệt vải đảm bảo nhu cầu vải mặc truyền thống. Có nơi do khí hậu lạnh nên không trồng được bông phải đem các sản phẩm như chàm, đồ đan, gia cầm đổi lấy bông. Phụ nữ dệt vải trên khung cửi nhỏ, khổ 20 cm. Vải bền do kỹ thuật dệt đo được nhuộm chàm nhiều lần. Trồng chàm và nhuộm chàm là một hoạt động rất đặc sắc ở người Hà Nhì.

Hái lượm còn chiếm vị trí đáng kể trong đời sống hàng ngày.

Ăn: Người Hà Nhì quen dùng cả cơm nếp và cơm tẻ trong các bữa ăn hàng ngày. Thực phẩm chủ yếu được cung cấp từ săn bắt, đánh cá, hái lượm. Vào dịp lễ tết, họ thường làm nhiều loại bánh, ưa dùng thịt nướng, thịt xào và đặc biệt thích ăn cháo ám nấu với thịt gà hoặc thịt lợn.

Ở: Họ quần cư chủ yếu trên dọc biên giới Việt-Trung, Việt-Lào thuộc các huyện Bát Xát (Lào Cai), Mường Tè (Lai Châu). Bộ phận làm ruộng bậc thang, nương định canh từ lâu đã sống định cư. Nhiều bản có tuổi trên 100 năm, đông tới 50, 60 hộ. Những nơi làm nương, bản thường phân tán rải rác theo nương.

Ða số cư dân ở nhà đất, tường trình chắc chắn, dày tới 30-40cm, thích hợp với khí hậu lạnh vùng núi cao. Tuỳ từng nơi, nhà có hàng hiên phía trước hoặc hàng hiên ở ngay trong nhà để tránh gió rét. Họ quen nấu cơm bằng chảo ở bếp lò xây trên nền đất.

Phương tiện vận chuyển: Người Hà Nhì phổ biến dùng gùi đeo qua trán, một số nơi dùng ngựa trong việc đi lại và chuyên trở.

Quan hệ xã hội: Tính cộng đồng trong làng bản biểu hiện khá tập trung không chỉ trong sản xuất mà cả trong lĩnh vực văn hoá tinh thần, tôn giáo, tín ngưỡng.

Gia đình nhỏ phụ quyền song người phụ nữ vẫn được trân trọng trong xã hội. Có nhiều họ khác nhau, mỗi họ lại chia ra thành nhiều chi. Tên chi gọi theo tên ông tổ.

Người Hà Nhì không có tục thờ cúng chung toàn dòng họ mà chỉ thờ cúng theo gia đình. Việc thờ cúng do con trai cả, dòng trưởng đảm nhận. Nếu dòng trưởng không có người thừa kế thì việc thờ cúng chuyển cho con trai út. Các thành viên trong gia đình, dù đã ra ở riêng, nếu bị chết phải đưa xác về quàn tại trước bàn thờ bố mẹ thì người quá cố mới được thờ cúng chung với tổ tiên.

Hàng năm vào tối 30 tết, một nghi lễ rất quan trọng trong gia đình được thực hiện. Ðó là lễ tưởng nhớ tổ tiên dòng họ, đọc tên từng tổ tiên và mọi người cùng nhắc lại. Tên từng người được gọi theo cách gọi phụ tử liên danh, tên cha nối với tên con, nên có vần điệu dễ nhớ. Có họ nhắc tới 71 tên gọi trong buổi lễ này. Có nơi nghi lễ này cũng được thực hiện trong lễ nhập quan cho người chết.

Cưới xin: Tuỳ từng vùng phong tục cưới xin khác nhau nhưng một điểm chung nhất là các cuộc hôn nhân do trai gái tự tìm hiểu. Ở vùng Bát Xát (Lào Cai), cưới qua nhiều bước. Sau ba lần dạm hỏi, lễ cưới thứ nhất được tổ chức nhằm đưa con dâu về nhà chồng. Lần cưới thứ hai ăn uống linh đình ở nhà gái. Lễ này chỉ diễn ra sau khi đôi vợ chồng làm ăn khá giả, lúc đó họ đã có con, cháu, có người 50-60 năm sau hoặc cho đến khi chết vẫn chưa tổ chức được lễ cưới này. Ở Tây Bắc, sau lễ hỏi, con rể đến ở rể. Nếu trả ngay tiền cưới thì không phải ở rể, lễ cưới được tổ chức ngay, từ đó con dâu mang họ của chồng.

Sinh đẻ: Phụ nữ Hà Nhì đẻ đứng. Ðể dễ đẻ họ có tục đập vỡ ống bương đựng nước cho nước toé ra hoặc thả ống bương nước trong có cái đục từ trên đỉnh nóc nhà xuống, đục bắn ra giống như đứa trẻ được đẻ ra. Có nơi sản phụ được uống nước tro của ruột voi với mong muốn sản phụ có sức mạnh như voi. Rau đẻ được chôn ở ngay sau cửa ra vào hay cột cạnh bếp lò.

Nhà có trẻ mới sinh được báo hiệu bằng chiếc nón úp trên cọc ở trước cửa, nếu cọc ở phía bên phải - sinh con gái, bên trái - sinh con trai.

Ma chay: Quan tài bằng thân cây khoét rỗng, có nắp đậy kín. Nơi đào huyệt được chọn bằng cách ném trứng, trứng vỡ ở đâu thì đào ở đấy. Kiêng chôn vào mùa mưa, vào thời điểm đó quan tài người chết được treo xuống huyệt nhưng không lấp, bên trên có nhà táng hoặc đặt trên giàn. Hết mùa mưa mới đem chôn quan tài có người chết.

Thờ cúng: Họ tin có linh hồn, thờ cúng tổ tiên, cúng bản và các nghi lễ nông nghiệp.

Lễ tết: Người Hà Nhì ăn tết năm mới vào đầu tháng 10 âm lịch. Trong năm còn có Tết cơm mới, Tết mồng năm tháng năm, rằm tháng 7.

Học: Người Hà Nhì chưa có chữ viết riêng, việc giáo dục chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống được truyền từ đời này qua đời khác.

Văn nghệ: Người Hà Nhì có nền văn học dân gian với nhiều thể loại như truyện thần kỳ, cổ tích, trường ca, ca dao, thành ngữ...

Dân ca, dân vũ là những hình thức văn nghệ được mọi lứa tuổi ưa thích.

Các loại nhạc cụ có trống, chiêng, đàn tính, đàn môi, sáo.

Chơi: Trẻ em Hà Nhì thích chơi các trò chơi đòi hỏi lòng dũng cảm, khéo léo như đấu vật, đuổi bắt, trốn tìm, chơi cù, đu quay.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Hà Nhì

Có thể bạn quan tâm

Để bản sắc trở thành sức hút của điểm đến

Để bản sắc trở thành sức hút của điểm đến

Từ những sản phẩm dệt lanh qua đôi bàn tay phụ nữ dân tộc Mông, xã Lùng Tám (tỉnh Tuyên Quang) đang tìm hướng kết nối nghề truyền thống với hoạt động trải nghiệm, giới thiệu văn hóa và tiêu thụ sản phẩm.

Thái Nguyên: Mùa vàng trên Bản Tèn

Thái Nguyên: Mùa vàng trên Bản Tèn

Với khí hậu mát mẻ, giao thông thuận lợi, bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo… Bản Tèn, xã Văn Lăng, tỉnh Thái Nguyên, hội tụ nhiều đặc điểm để phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch cộng đồng, du lịch trải nghiệm, đặc biệt là mùa lúa chín vào khoảng tháng 10 hàng năm.

Về Tuyên Quang bắt cá bằng tay

Về Tuyên Quang bắt cá bằng tay

Xuống ruộng bắt cá bằng tay, tìm hiểu cách chế biến món ăn truyền thống, tham quan những gian hàng nông sản và hòa vào sinh hoạt văn hóa của người Tày là những hoạt động được xã Mậu Duệ, tỉnh Tuyên Quang đưa vào Lễ hội Tết cá năm 2026.

Khám phá sắc màu thiên nhiên và văn hóa nơi vùng cao Pu Nhi

Khám phá sắc màu thiên nhiên và văn hóa nơi vùng cao Pu Nhi

Cách trung tâm hành chính tỉnh Điện Biên khoảng 30km, xã Pu Nhi hấp dẫn du khách bởi những thửa ruộng bậc thang mùa lúa chín, cảnh sắc núi rừng mùa thu và những giá trị văn hóa truyền thống được đồng bào Mông gìn giữ qua nhiều thế hệ.

Rộn ràng chương trình mừng Lễ Sene Dolta năm 2026 tại TP Cần Thơ

Rộn ràng chương trình mừng Lễ Sene Dolta năm 2026 tại TP Cần Thơ

Sáng 11/10/2026, tại Chùa Đay Om Pu (xã Gia Hòa), thành phố Cần Thơ tổ chức chương trình truyền hình trực tiếp mừng Lễ Sene Dolta năm 2026 với chủ đề “Gìn giữ bản sắc văn hóa, phát huy sức mạnh đoàn kết, kiến tạo tương lai”. Hoạt động nhằm lan tỏa không khí rộn ràng, đầm ấm của ngày lễ lớn đến với đông đảo đồng bào Khmer.

Người trẻ kể chuyện văn hóa Khmer để lan tỏa bản sắc dân tộc

Người trẻ kể chuyện văn hóa Khmer để lan tỏa bản sắc dân tộc

Ngày 10/10, tại TP Hồ Chí Minh, vlog “Sắc Khmer” được giới thiệu, ghi lại hành trình học sinh tìm hiểu lễ Sene Dolta và sinh hoạt tại chùa Kh’leang. Hoạt động hướng đến giúp thanh thiếu niên tham gia giới thiệu văn hóa cộng đồng bằng trải nghiệm và lời kể của mình.

Hướng về cội nguồn, kết nối di sản giữa lòng Thủ đô

Hướng về cội nguồn, kết nối di sản giữa lòng Thủ đô

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương không chỉ là lời tri ân sâu sắc đối với các bậc tiền nhân, mà còn là sợi dây tâm linh gắn kết những người con đất Việt. Việc gìn giữ và trao truyền những giá trị di sản là cách tiếp nối và bồi đắp dòng chảy văn hóa dân tộc.

Hội đua bò Bảy Núi lan tỏa giá trị văn hóa của đồng bào Khmer Nam Bộ

Hội đua bò Bảy Núi lan tỏa giá trị văn hóa của đồng bào Khmer Nam Bộ

Ngày 10/10, tại sân đua bò xã An Cư (gần chùa Thơ Mít), Sở Văn hóa, Thể thao tỉnh An Giang phối hợp với Báo và Phát thanh - Truyền hình An Giang, UBND xã An Cư tổ chức Hội đua bò Bảy Núi tranh cúp Truyền hình An Giang lần thứ 31 năm 2026. Sự kiện thu hút hàng nghìn lượt người dân, du khách trong và ngoài nước đến theo dõi, cổ vũ, góp phần tôn vinh nét văn hóa đặc sắc của đồng bào Khmer Nam Bộ.

Lễ hội Katê - Kết nối di sản trong dòng chảy văn hóa đương đại

Lễ hội Katê - Kết nối di sản trong dòng chảy văn hóa đương đại

Sáng 10/10, tại Tháp Pô klong Garai (phường Đô Vinh), đồng bào Chăm theo đạo Bàlamôn tại Khánh Hòa cùng đông đảo người dân, du khách hòa mình vào những nghi lễ truyền thống đặc sắc của Lễ hội Katê năm 2026. Tiếng trống Ginăng, Paranưng, tiếng kèn Saranai cùng những điệu múa Chăm tạo nên không khí lễ hội vừa trang nghiêm, vừa vui tươi.

Điện Biên mở hội, sắc màu văn hóa Mông cùng tỏa sáng

Điện Biên mở hội, sắc màu văn hóa Mông cùng tỏa sáng

Tối 9/10, tại Quảng trường 7/5, phường Điện Biên Phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với tỉnh Điện Biên tổ chức khai mạc Ngày hội Văn hóa dân tộc Mông lần thứ IV năm 2026 với chủ đề “Sắc màu văn hóa dân tộc Mông – Hội tụ và tỏa sáng”. Sự kiện nhằm tôn vinh, quảng bá các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Mông; góp phần bảo tồn, phát huy bản sắc dân tộc trong đời sống hiện đại. Đây cũng là dịp giới thiệu hình ảnh Điện Biên, tăng cường giao lưu giữa các địa phương có đồng bào Mông sinh sống, thúc đẩy kết nối văn hóa với phát triển du lịch.

Mùa vàng trải sóng ở Hoàng Su Phì

Mùa vàng trải sóng ở Hoàng Su Phì

Về thu, ruộng bậc thang Hoàng Su Phì khoác sắc vàng óng ả, từng lớp ruộng men theo sườn núi, uốn quanh mái nhà, nối nhau như những đợt sóng giữa đại ngàn.

Đặc sắc Lễ hội Cốm Co Giàng

Đặc sắc Lễ hội Cốm Co Giàng

Trong 2 ngày 9-10/10, người dân và du khách được trải nghiệm không gian văn hóa dân tộc Thái tại xã Pắc Ta (tỉnh Lai Châu) trong “Lễ hội Cốm Co Giàng” lần thứ I. Đây cũng là dịp để địa phương quảng bá sản vật, cảnh quan và tiềm năng du lịch.

Sắc màu văn hóa dân tộc Mông hội tụ tại Điện Biên

Sắc màu văn hóa dân tộc Mông hội tụ tại Điện Biên

Những đường thêu rực rỡ trên trang phục truyền thống, nét vẽ sáp ong trên vải lanh, tiếng búa rèn, nhịp giã bánh dày cùng các trò chơi dân gian tạo nên bức tranh văn hóa đa sắc màu tại Ngày hội Văn hóa dân tộc Mông lần thứ IV năm 2026 ở Điện Biên. Qua các hoạt động trưng bày, trình diễn và trải nghiệm, những giá trị truyền thống được tái hiện sinh động, góp phần lan tỏa bản sắc văn hóa và gợi mở hướng bảo tồn gắn với phát triển, nâng cao đời sống đồng bào.

Nhiều hoạt động hấp dẫn tại Ngày hội Văn hóa dân tộc Mông

Nhiều hoạt động hấp dẫn tại Ngày hội Văn hóa dân tộc Mông

Sáng 9/10, tại phường Điện Biên Phủ (tỉnh Điện Biên) các hoạt động văn hóa, triển lãm, thể thao và du lịch trong khuôn khổ Ngày hội Văn hóa dân tộc Mông lần thứ IV năm 2026 chính thức khai mạc, với sự tham gia của 11 tỉnh, gồm: Điện Biên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Thái Nguyên, Sơn La, Cao Bằng, Lai Châu, Lào Cai, Thanh Hóa, Nghệ An và Đắk Lắk.

Phát huy giá trị di sản lễ hội Katê

Phát huy giá trị di sản lễ hội Katê

Chỉ còn hai ngày nữa (ngày 10/10), đồng bào Chăm theo đạo Bàlamôn ở tỉnh Khánh Hòa sẽ cùng đón lễ hội Katê - lễ hội truyền thống lớn nhất trong năm.