Xây dựng thương hiệu “Bò Ba Tri”

Xây dựng thương hiệu “Bò Ba Tri”
Chăn nuôi bò theo mô hình trang trại tại huyện Ba Tri. Ảnh: Huỳnh Phúc Hậu - TTXVN
Chăn nuôi bò theo mô hình trang trại tại huyện Ba Tri.
Ảnh: Huỳnh Phúc Hậu - TTXVN
Nâng cao chất lượng đàn bò Anh Nguyễn Thành Quang, xã Mỹ Hòa, huyện Ba Tri cho biết, trước đây gia đình chủ yếu nuôi các giống bò vàng của địa phương nên hiệu quả không cao do bò có trọng lượng thấp và tỷ lệ thịt không nhiều. Sau khi được tập huấn hướng dẫn lai tạo các giống bò nền lai Sind, Brahman, các giống siêu thịt như Red Angus, Limousine, Charolais, BBB…, anh Quang dần thay đổi giống bò địa phương sang nuôi các giống bò có chất lượng cao, được thị trường ưa chuộng. Không dừng ở đó, từ những kinh nghiệm thực tế, anh mạnh dạn đầu tư phát triển đàn bò. Từ chăn nuôi nhỏ lẻ, đến nay, anh Quang đã trở thành chủ cơ sở cung cấp bò giống cho bà con trong xã, huyện và các tỉnh Long An, Tiền Giang, Kiên Giang, Phú Yên… Để nâng cao qui mô sản xuất, năm 2015, anh Quang mạnh dạn đầu tư mua 7.000m2 đất xây dựng chuồng trại, trồng cỏ tạo nguồn thức ăn cho bò với tổng vốn đầu tư gần 7 tỷ đồng. Hiện anh Quang nuôi hơn 150 con bò sinh sản và bò thịt vỗ béo. Anh Quang chia sẻ, cũng nhờ nâng cao chất lượng đàn bò so với trước đây nên người chăn nuôi thu được lợi nhuận nhiều hơn. Bên cạnh đó, bò Ba Tri hiện đã có chứng nhận thương hiệu. Điều này giúp người nông dân nuôi bò ngày được phát triển hơn. Theo ông Nguyễn Văn Đức, xã Mỹ Chánh, huyện Ba Tri, nếu không có sự thay đổi về con giống thì người dân chăn nuôi bò không đạt hiệu quả như hôm nay. Ông Đức so sánh, trước đây con bò vàng truyền thống bán giá cao lắm không được 20 triệu đồng/con, do chất lượng thịt không đạt và trọng lượng nhỏ. Nhưng từ lúc gia đình ông chuyển sang nuôi các loại giống chất lượng cao, trọng lượng xuất bán có con đạt gần1 tấn, chất lượng thịt đạt từ 60%-70% nên có thể bán được từ 30 triệu đến 40 triệu đồng/con. Ông Đức cho biết, gia đình ông nuôi 15 con bò nái, bò thịt vỗ béo, mỗi năm thu lợi nhuận hơn 200 triệu đồng. Theo Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Ba Tri,  tổng đàn bò của toàn huyện có hơn 100.000 con; trong đó, có khoảng 60% là bò cái sinh sản, còn lại là bò nghé và bò nuôi vỗ béo đã được chuyển đổi hoàn toàn sang các giống chất lượng cao như giống bò lai Sind, Brahman; các giống siêu thịt Red Angus, Limousine, BBB, …. chiếm hơn 50% tổng đàn bò của tỉnh. Mỗi năm xuất bán trung bình hơn 30.000 con bò. Phó Chủ tịch UBND huyện Ba Tri ông Dương Văn Chương, cho biết, từ năm 2002, huyện đã thực kế hoạch chuyển đổi giống đàn bò và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật gieo tinh các giống bò tốt chất lượng cao cho người dân. Nhờ nỗ lực cải thiện chất lượng đàn bò, đến cuối năm 2016, bò Ba Tri  được Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ trao chứng nhận nhãn hiệu “Bò Ba Tri”, đây là nhãn hiệu bò đầu tiên của Đồng bằng sông Cửu Long có chất lượng và giá trị kinh tế cao, tạo động lực để ngành chăn nuôi bò ở Ba Tri phát triển.Xây dựng chuỗi giá trị Theo UBND huyện Ba Tri, toàn huyện có trên 26.000 hộ tham gia chăn nuôi bò; trung bình từ mỗi hộ chăn nuôi từ 3 - 5 con bò. Có hộ chăn nuôi từ 30 - 100 con/hộ chiếm hơn 15%, toàn huyện có 32 tổ hợp tác, 1 hợp tác xã chăn nuôi bò. Ông Trà Tấn Thanh, Giám đốc Hợp tác xã nông nghiệp Mỹ Chánh (huyện Ba Tri) cho biết, lúc mới thành lập, Hợp tác xã nông nghiệp Mỹ Chánh chỉ có 50 hộ thành viên với tổng vốn điều lệ hơn 100 triệu đồng. Đến nay, số hộ đã lên đến 200 thành viên, vốn điều lệ hơn 10 tỷ đồng. Theo ông Thanh ngay từ khi thành lập, hợp tác xã đã xây dựng quy chuẩn trong sản xuất cho từng hộ viên nhằm đảm bảo các vấn đề về an toàn vệ sinh dịch bệnh. Nhờ chất lượng tốt, bò giống của hợp tác xã luôn duy trì được giá bán ổn định và cao hơn giá thị trường 5.000 – 10.000 đồng/kg. Ngoài ra, hợp tác xã là địa chỉ tin cậy của các tỉnh đến đặt mua bò giống. Trong năm 2018, hợp tác xã đã cung cấp cho các tỉnh hơn 1.500 con bò giống sinh sản. Bên cạnh đó, hợp tác xã là đầu mối tiêu thụ bò thịt cho người chăn nuôi, cung cấp thịt cho thị trường thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh trong khu vực. Ông Trà Tấn Thanh cho hay, thời gian tới, hợp tác xã đầu tư lò giết mổ tập trung và xây dựng gian hàng bán thịt tươi, thịt sau chế biến… nhằm giảm bớt khâu trung gian và gia tăng lợi nhuận cho xã viên…Mặt khác, hợp tác xã đang liên kết với các công ty tiêu thụ bò thịt để đầu ra được ổn định hơn, từng bước góp phần xây dựng chuỗi giá trị bò Ba Tri, đưa thương hiệu Bò Ba Tri ngày càng phát triển. Ông Dương Văn Chương, Phó Chủ tịch UBND huyện Ba Tri cho biết, từ hiệu quả mang lại của Hợp tác xã Mỹ Chánh, địa phương tiến hành nhân rộng mô hình này ra toàn huyện, để từ đó có nhiều hợp tác xã, tổ hợp tác trở thành cầu nối giữa người dân liên kết với doanh nghiệp, hướng dẫn các hộ chăn nuôi đi theo hướng liên kết, tập trung sản xuất theo hình thức tổ hợp tác và hợp tác xã đảm bảo liên kết chặt chẽ đầu vào, đầu ra. Cùng với đó, từng bước hình thành chuỗi giá trị cho con bò, góp phần đưa thương hiệu “Bò Ba Tri” ngày càng vươn xa trên thị trường. Ông Đoàn Văn Đảnh, Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh Bến Tre cho biết, người dân đã am hiểu các kỹ thuật chăn nuôi bò, chất lượng bò Ba Tri được đánh giá cao trên cả nước. Do đó, vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để đưa người nông dân đến gần hơn với nhà doanh nghiệp tiêu thụ để có sự kết nối đầu vào đầu ra cho ổn định. Chính vì vậy, người nông dân bắt buộc phải liên kết với nhau trong chăn nuôi, xây dựng hình thành tổ hợp tác, hợp tác xã để có quy trình sản xuất chuẩn, nguồn cung cấp ổn định cho doanh nghiệp, luôn đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Bên cạnh đó, trong năm 2019, Hội nông dân phối hợp Sở Công Thương triển khai truy xuất nguồn gốc cho con bò Ba Tri, khai thác thật tốt nhãn hiệu chứng nhận “Bò Ba Tri” để nhãn hiệu này sẽ càng ngày càng phát triển bền vững.
Huỳnh Phúc Hậu

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.