Yên Bái nâng cao giá trị sản phẩm chè

Tỉnh Yên Bái đang tập trung tái cơ cấu ngành chè theo hướng thâm canh tăng năng suất, lựa chọn giống chè chất lượng cao để cải tạo, mở rộng diện tích tạo thành vùng nguyên liệu tập trung, đảm bảo cho mối liên kết bền vững giữa người trồng chè với doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ sản phẩm, nhằm sớm đạt mục tiêu đưa cây chè trở lại đúng với vị thế và tiềm năng vốn có.

vna_potal_yen_bai_tai_co_cau_nang_cao_gia_tri_san_pham_che_7369683.jpg
Diện tích trồng chè tại huyện Văn Chấn (Yên Bái). Ảnh: TTXVN phát

Phát triển vùng chè tập trung, chất lượng cao

Trước đây, Yên Bái có diện tích chè đứng thứ hai toàn quốc, với tổng diện tích hơn 12.000 ha chè. Cây chè thực sự là cây xóa đói giảm nghèo cho hàng vạn nông dân, hình thành nhiều vùng chè tập trung nổi tiếng, như: Yên Bình, thị xã Nghĩa Lộ, Văn Chấn, Trấn Yên. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân mà đến nay diện tích chè trên toàn tỉnh còn khoảng 7.600 ha, cho tổng sản lượng búp tươi đạt hơn 70 nghìn tấn, năng suất đạt 9,8 tấn/ha, không đồng đều giữa các vùng.

Ông Nguyễn Đức Điển, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Yên Bái cho biết, tỉnh đã rà soát, quy hoạch và đầu tư cơ sở hạ tầng những vùng chè tập trung quy mô lớn; hỗ trợ người dân thâm canh tăng năng suất diện tích chè hiện có, thực hiện việc trồng mới, trồng thay thế diện tích chè già cỗi bằng các giống cho năng suất, chất lượng cao và phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng của từng vùng; chú trọng công tác tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật, hướng dẫn người trồng chè áp dụng quy trình trồng chè hữu cơ, theo tiêu chuẩn VietGAP.

Đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xác định được 4 vùng chè tập trung, có quy mô hàng nghìn ha trở lên; lựa chọn 3 giống chè tiêu biểu, phù hợp; trong đó, Văn Chấn là huyện có diện tích chè lớn nhất của tỉnh Yên Bái, là vùng quy hoạch trọng điểm phát triển cây chè. Bên cạnh việc phát triển chè đặc sản Shan tuyết, huyện đã chỉ đạo chuyển đổi từ chè trung du sang các giống chè lai chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu thị trường.

vna_potal_yen_bai_tai_co_cau_nang_cao_gia_tri_san_pham_che_7369673.jpg
Thu hoạch chè tại Yên Bái. Ảnh: TTXVN phát

Ông Đinh Văn Trường, Phó Chủ tịch UBND huyện Văn Chấn cho biết, nhận biết tiềm năng kinh tế khá cao từ cây chè mang lại, huyện đã khôi phục, thâm canh diện tích chè đã có, mở rộng những vùng đất thấp để quy hoạch tập trung thành vùng chè quy mô lớn, từ đó ưu tiên đầu tư xây dựng hạ tầng vùng chè, như: đường giao thông, hỗ trợ vườn ươm cây giống, cơ khí hóa vào khâu trồng và thu hoạch chè... Hiện, mỗi năm huyện trồng cải tạo từ 200 - 300 ha giống chè lai chất lượng cao, người dân vùng chè đã có thu nhập chủ yếu từ cây chè, thực sự sống bằng nghề trồng chè.

Là địa phương nằm trong quy hoạch vùng chè, xã Bảo Hưng (Trấn Yên) có trên 300 hộ dân trồng chè đều tham gia dự án "Sản xuất chè an toàn, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững”. Nhờ đó, người dân đã chuyển phần lớn diện tích trồng chè giống cũ sang trồng chè Bát tiên chất lượng cao kết hợp với trồng xen cây mắc ca, với phương thức trồng theo hướng hữu cơ, sinh thái, tạo nên sản phẩm là chè búp tươi sạch, có hương vị thơm ngon, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu.

Ông Nguyễn Văn Bảy, Chủ tịch UBND xã Bảo Hưng chia sẻ, khi trồng thay thế bằng giống chè Bát tiên, 100% các hộ trồng chè được tham gia các lớp tập huấn về trồng, chăm sóc chè theo kỹ thuật đặc biệt, do vậy cho năng suất cao hơn 20 đến 30% so với cách trồng truyền thống; đồng thời, ứng dụng quy trình trồng chè theo tiêu chuẩn VietGAP, áp dụng nghiêm ngặt quy trình sản xuất chè sạch, không sử dụng phân bón vô cơ và thuốc trừ sâu, chuyển sang sử dụng chế phẩm sinh học và phân bón hữu cơ, nhờ vậy sản phẩm chè búp tươi sản xuất đến đâu đều được thu mua đến đó, giá chè tăng từ 2-3 lần so với chè trung du.

Thúc đẩy liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị

Theo thống kê từ Sở Công Thương tỉnh Yên Bái, tính đến cuối năm 2023, toàn tỉnh có 52/105 cơ sở chế biến chè đang hoạt động, các cơ sở còn lại dừng hoạt động hoặc hoạt động cầm chừng do thiếu nguyên liệu sản xuất. Mặc dù, sản lượng chè khô tăng mạnh trong những năm gần đây, nhưng chỉ đạt khoảng hơn 15,5 nghìn tấn; trị giá trên 850 tỷ đồng. Đến nay, tỉnh Yên Bái đã có 19 sản phẩm chè đạt tiêu chuẩn Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP).

Ông Vũ Vinh Quang, Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Yên Bái cho biết, đi đôi với việc tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, tỉnh Yên Bái đang rà soát đánh giá năng lực sản xuất, khả năng tài chính của các đơn vị chế biến. Từ đó, quy hoạch, cấp phép lại mạng lưới các cơ sở chế biến theo hướng có đủ khả năng đầu tư đổi mới công nghệ hiện đại cho chế biến sâu, đáp ứng các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm, có công suất phù hợp với nguồn nguyên liệu.

vna_potal_yen_bai_tai_co_cau_nang_cao_gia_tri_san_pham_che_7369688.jpg
Vùng trồng chè lai tại các xã vùng hạ huyện Văn Chấn (Yên Bái). Ảnh: TTXVN phát

Đặc biệt, tỉnh Yên Bái đã hỗ trợ các đơn vị chế biến thông qua xây dựng vùng nguyên liệu tập trung; xây dựng cơ chế, chính sách cho liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, gắn các doanh nghiệp, cơ sở chế biến, tiêu thụ chè trên địa bàn với người dân trồng chè trong vùng nguyên liệu. Ngoài ra, còn hỗ trợ doanh nghiệp trong việc đăng ký nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, truy xuất nguồn ngốc, chứng nhận sản phẩm chè đạt tiêu chuẩn OCOP thuộc Chương trình mỗi xã một sản phẩm, xúc tiến thương mại...

Để đạt tiêu chuẩn chè xuất khẩu, bên cạnh giống chè có chất lượng cao thì nguồn nguyên liệu búp chè tươi phải sạch, không có dư lượng hóa chất. Do vậy, các doanh nghiệp chế biến luôn liên kết chặt chẽ, cùng giám sát, đồng hành với các nhóm hộ trồng chè trong vùng nguyên liệu từ khâu trồng, chăm sóc và thu hoạch. Theo đó, doanh nghiệp chế biến cam kết thu mua với giá cao ngay từ đầu vụ, ngược lại các hộ dân trồng chè cam kết trồng chè sạch, theo hướng hữu cơ.

vna_potal_yen_bai_tai_co_cau_nang_cao_gia_tri_san_pham_che__7369691.jpg
Nông dân xã Bảo Hưng (Trấn Yên, Yên Bái) thu hoạch chè tươi bằng máy cho công suất đạt 300 đến 400 kg/ngày. Ảnh: TTXVN phát

Ông Phạm Văn Bàn, Giám đốc Hợp tác xã Chè xanh chất lượng cao Bảo Hưng (Trấn Yên) chia sẻ, hợp tác xã ký hợp đồng lâu dài với hộ trồng chè, chịu trách nhiệm cung ứng giống, phân bón, chuyển giao kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hái và bao tiêu toàn bộ sản phẩm chè búp tươi theo giá cao hơn nhiều lần so với giá thị trường của chè thông thường. Người trồng chè chuyên sâu vào thâm canh, chăm sóc theo hướng dẫn, yêu cầu của hợp tác xã. Mô hình liên kết đã tạo việc làm, mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần ổn định và nâng cao đời sống cho người dân trồng chè.

Với kinh nghiệm của chủ doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu chè gần 30 năm, ông Nguyễn Trọng Hữu, Giám đốc Công ty TNHH Chế biến chè Hữu Hảo (xã Lương Thịnh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái) khăng định, liên kết sản xuất nguyên liệu chè gắn với bao tiêu sản phẩm ổn định. Từ đó, xây dựng vùng trồng chè tập trung gắn với công nghiệp chế biến là hướng đi phù hợp, bền vững để phát triển cây chè, góp phần đưa cây chè trở thành một trong mười cây trồng chủ lực của tỉnh Yên Bái.

Tiến Khánh

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Chắp cánh ước mơ cho học sinh hoàn cảnh đặc biệt

Những ngày đầu năm học mới, ở ngôi trường lần đầu vang lên tiếng trống khai trường, 95 học sinh có hoàn cảnh đặc biệt đã bắt đầu một hành trình mới. Các em là con thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân, trẻ em dân tộc thiểu số và học sinh thuộc diện bảo trợ xã hội, có hoàn cảnh khó khăn. Từ năm học 2026 – 2027, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh trở thành mái nhà chung, nơi các em được chở che, học tập, rèn luyện và tự tin nuôi dưỡng ước mơ.

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Mô hình thôn số giúp ‘xóa nghèo’ công nghệ từ cấp cơ sở

Công nghệ số đang ngày càng khẳng định vai trò kỳ diệu trong việc rút ngắn khoảng cách địa lý ở các thôn, bản vùng cao, biên giới Lào Cai. Các mô hình thí điểm thôn số tiêu biểu đã được triển khai bước đầu cho thấy hiệu quả vượt trội trong xóa nghèo công nghệ từ cấp cơ sở; góp phần hình thành thói quen ứng dụng công nghệ số tại cộng đồng dân cư; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Tây Ninh: Gỡ 'điểm nghẽn' giáo dục vùng biên

Những năm qua, giáo dục tại các xã biên giới của tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực khi mạng lưới trường lớp ngày càng hoàn thiện, tỷ lệ huy động học sinh đến trường được duy trì ở mức cao, chất lượng giáo dục từng bước nâng lên. Tuy nhiên, vẫn còn đó không ít “điểm nghẽn” về điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư đòi hỏi sớm được tháo gỡ nhằm phát triển nguồn nhân lực, giữ dân và giữ vững vùng biên giới.

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Chuyển đổi số ở miền núi Quảng Ngãi góp phần phủ xanh tiện ích số

Phong trào “Bình dân học vụ số” cùng các chiến dịch như “Mùa hè số cùng VNeID” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đang được triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến tích cực trong chuyển đổi số. Đặc biệt tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, những tiện ích số đang dần được "phủ xanh", phục vụ thiết thực cho cuộc sống hằng ngày của người dân.

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật 110 tỷ đồng

Sáng 27/8, tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh phối hợp với Bộ Công an tổ chức Lễ khởi công xây dựng Cơ sở giáo dục trẻ khuyết tật. Buổi lễ có sự tham dự của Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an cùng nhiều lãnh đạo Bộ Công an.

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Phát triển kinh tế từ mô hình chăn nuôi tuần hoàn

Giảm chi phí, chủ động phòng bệnh, nâng cao chất lượng đàn vật nuôi và bảo vệ môi trường đang là những yêu cầu thiết yếu được người chăn nuôi quan tâm. Từ những thay đổi trong cách chăm sóc, vệ sinh chuồng trại đến xử lý chất thải bằng các giải pháp sinh học, nhiều hộ dân tại Bắc Ninh đang từng bước hình thành phương thức chăn nuôi an toàn, hiệu quả và bền vững.

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Sắp xếp cơ sở giáo dục, ưu tiên quyền học tập của học sinh

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục công lập theo hướng tinh gọn, quy mô hợp lý, tỉnh Lạng Sơn đặt mục tiêu giảm mạnh đầu mối, tập trung nguồn lực cho dạy và học; đồng thời bảo đảm quyền học tập của học sinh và phù hợp với đặc thù địa bàn miền núi, biên giới.

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Mở rộng cánh cửa đến trường cho học sinh vùng biên

Với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, mô hình trường nội trú không chỉ tạo điều kiện học tập thuận lợi mà còn mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục, từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền. Những ngày này, Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Ia R’vê, xã biên giới Ia R’vê, tỉnh Đắk Lắk, đang khẩn trương hoàn thiện cơ sở vật chất, tổ chức tuyển sinh và vận động học sinh đến trường.

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Giúp trẻ vùng cao tự tin bước vào năm học mới

Những ngày đầu tháng 8, tại nhiều trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk, các lớp tăng cường tiếng Việt cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một diễn ra trong không khí gần gũi, nhẹ nhàng. Từ những con chữ đầu tiên, các em được làm quen với tiếng Việt, trường lớp và nền nếp học tập, tạo tâm thế vững vàng trước khi bước vào năm học mới.

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Để tuổi trẻ vùng cao nói không với tảo hôn

Tảo hôn là vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng dân số và cơ hội phát triển của trẻ em, thanh thiếu niên ở một số địa bàn vùng cao. Để thay đổi nhận thức, tuổi trẻ Điện Biên đã tích cực đổi mới cách tuyên truyền, đồng thời tạo điều kiện để thanh niên học tập, học nghề, lập nghiệp trước khi xây dựng gia đình.

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện cho năm học mới ở vùng khó Đắk Lắk

Đắk Lắk là địa phương có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, địa bàn rộng, nhiều vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, bãi ngang. Chỉ còn ít tuần nữa năm học 2026-2027 sẽ bắt đầu. Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, công tác chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và vận động học sinh ra lớp đang được triển khai khẩn trương, với mục tiêu bảo đảm các điều kiện tốt nhất trước ngày khai giảng.

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên: Phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca

Điện Biên đang đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu cà phê, mắc ca theo hướng tập trung, liên kết sản xuất. Cùng với hoàn thành diện tích trồng mới, các địa phương chú trọng hướng dẫn người dân chăm sóc, trồng dặm, phòng trừ sâu bệnh, tạo nền tảng nâng cao năng suất và hiệu quả cây trồng.