Cao Bằng giữ nghề truyền thống, mở lối phát triển du lịch

Trong bối cảnh xã hội công nghiệp ngày càng phát triển, nhiều giá trị văn hóa truyền thống đứng trước nguy cơ mai một. Tuy nhiên, tại Cao Bằng, du khách vẫn có thể cảm nhận rõ nét những sắc màu văn hóa được cộng đồng các dân tộc nơi đây gìn giữ qua nhiều thế hệ. Người dân vẫn bền bỉ duy trì các nghề thủ công truyền thống, đưa sản phẩm văn hóa bản địa ra thị trường trong nước và quốc tế, góp phần tạo nên điểm nhấn du lịch đặc sắc cho vùng non nước Cao Bằng.

thocam-2503.jpg
Gìn giữ và phát huy nghề dệt thổ cẩm truyền thống ở Luống Nọi (tỉnh Cao Bằng). Ảnh: Chu Hiệu/TTXVN

Trải nghiệm làng nghề - điểm nhấn thu hút du khách

Bên cạnh cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, điều thu hút du khách đến với Cao Bằng chính là cơ hội trải nghiệm đời sống văn hóa bản địa, đặc biệt tại các làng nghề truyền thống. Vợ chồng ông Davir Liero, du khách Pháp cho biết, vợ chồng ông quay trở lại Cao Bằng lần thứ hai để tham quan các làng nghề như làng hương Phja Thắp, làng giấy bản Dìa Trên, làng nhuộm vải chàm Phúc Sen và làng dệt thổ cẩm Luống Nọi. Theo ông, người dân nơi đây hiền hậu, cần cù, với đôi bàn tay khéo léo đã tạo nên những sản phẩm tinh xảo, thân thiện với môi trường.

Nghề dệt thổ cẩm là một trong những nghề truyền thống tiêu biểu của địa phương. Bà Nông Thị Thược, nghệ nhân dân tộc Tày ở làng Luống Nọi đã gắn bó với khung cửi hơn nửa thế kỷ. Theo bà, dệt thổ cẩm đòi hỏi sự kiên trì, tỉ mỉ; mỗi hoa văn đều lấy cảm hứng từ thiên nhiên như bông lúa, cánh chim, dòng suối. Người thợ phải ghi nhớ từng chi tiết để dệt từ mặt trái của vải mà không có bản vẽ. Một sản phẩm hoàn chỉnh có thể mất vài ngày. Dù giá trị kinh tế chưa cao, bà vẫn giữ nghề vì coi đây là di sản quý. Hiện nay, các sản phẩm thổ cẩm như khăn, túi, đồ trang trí ngày càng được du khách ưa chuộng, thậm chí xuất hiện tại các sự kiện của UNESCO trong khuôn khổ Công viên địa chất Toàn cầu Non nước Cao Bằng.

Ngoài thổ cẩm, người Dao Tiền ở Hoài Khao nổi tiếng với kỹ thuật vẽ sáp ong trên vải chàm, tạo hoa văn trắng trên nền xanh đậm. Người Nùng An ở Quảng Uyên chiếm phần lớn lao động trong các làng nghề làm hương, giấy bản, nhuộm vải chàm. Tại làng giấy bản Dìa Trên, nhiều hộ dân đã gắn bó hàng chục năm với nghề, thực hiện đầy đủ các công đoạn từ ngâm vỏ cây, giã bột đến tráng giấy. Những tờ giấy bản trắng ngà, bền dai được dùng trong sinh hoạt và nghi lễ truyền thống.

Gắn bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch bền vững

cao-bang.jpg
Phia Thắp có trên 50 hộ dân, 100% số hộ dân trong thôn đều biết làm nghề và miệt mài giữ nghề làm hương truyền thống. Ảnh: An Thành Đạt

Từ thổ cẩm rực rỡ, hương thơm thảo mộc đến giấy bản mộc mạc, mỗi sản phẩm đều chứa đựng câu chuyện văn hóa của cộng đồng. Những năm gần đây, cùng với sự phát triển du lịch, nhiều giá trị văn hóa truyền thống được khai thác thành sản phẩm du lịch. Người dân vừa bảo tồn di sản vừa sáng tạo để lan tỏa bản sắc địa phương. Năm 2025, tại Hội chợ Triển lãm Quốc gia, gian hàng Cao Bằng đã giới thiệu nhiều giá trị văn hóa đặc sắc, trong đó có nghệ nhân trình diễn hát Then, đàn Tính, dệt thổ cẩm, chế biến ẩm thực. Đây là điểm nhấn thu hút đông đảo du khách.

Nhiều sản phẩm văn hóa do cộng đồng gìn giữ và sáng tạo cũng được quảng bá rộng rãi tại các hội chợ, sự kiện du lịch. Từ thổ cẩm, hương thảo mộc đến các món ăn như bánh cuốn, thạch đen, bánh khảo, lạp sườn hun khói… đều góp phần tạo nên không gian văn hóa đặc sắc. Theo Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nông Thị Tuyến, chính những sản phẩm thủ công do người dân làm ra đã trở thành “sứ giả” quảng bá hình ảnh du lịch địa phương.

Từ những trải nghiệm tại hội chợ năm 2025, anh Nguyễn Minh Đức, du khách Hà Nội đã quyết định lựa chọn Cao Bằng là điểm đến trong ba ngày đầu xuân năm 2026. Tại các điểm du lịch nổi tiếng như thác Bản Giốc, Pác Bó, Núi Mắt Thần, du khách không chỉ tham quan cảnh quan mà còn được trực tiếp trải nghiệm các hoạt động văn hóa do người dân địa phương tổ chức.

Ở làng đá cổ Khuổi Ky, nhiều gia đình người Tày phát triển mô hình du lịch cộng đồng. Du khách được tham gia làm bánh, nghe kể về phong tục, thưởng thức hát Then, đàn Tính. Những trải nghiệm này giúp họ hiểu hơn về văn hóa địa phương và thấy chuyến đi ý nghĩa hơn.

Cộng đồng các dân tộc thiểu số tại Cao Bằng không chỉ duy trì nghề truyền thống mà còn tích cực tham gia các hoạt động văn hóa, truyền dạy cho thế hệ trẻ. Nhiều câu lạc bộ hát Then, tổ dệt thổ cẩm, nhóm ẩm thực truyền thống được thành lập, thu hút đông đảo người dân tham gia, góp phần đưa di sản văn hóa vào đời sống hằng ngày. Đáng chú ý, nhiều hộ gia đình đã mạnh dạn khởi nghiệp từ nghề truyền thống, từng bước chuyển hóa giá trị văn hóa bản địa thành sản phẩm kinh tế. Hiện toàn tỉnh có 174 sản phẩm OCOP, trong đó hơn một nửa do người dân trực tiếp sản xuất hoặc khởi nghiệp. Nhiều sản phẩm như thổ cẩm, thạch đen, bún ngũ sắc, quà tặng du lịch đã được cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Những định hướng này phù hợp với chủ trương bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, coi văn hóa là nền tảng tinh thần, đồng thời là nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội. UBND tỉnh Cao Bằng xác định gắn bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch, tạo sinh kế bền vững cho người dân. Tại Quảng Uyên, phần lớn lao động trong các làng nghề truyền thống vừa duy trì bản sắc, vừa đổi mới sản phẩm phục vụ du lịch, qua đó nâng cao thu nhập.

Từ trang phục truyền thống, món ăn đặc sắc đến làn điệu Then, cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Cao Bằng vẫn lặng lẽ gìn giữ giá trị văn hóa bản địa. Bằng sự khéo léo, cần mẫn và niềm tự hào dân tộc, họ không chỉ bảo tồn di sản mà còn trở thành “đại sứ văn hóa”, góp phần quảng bá hình ảnh Non nước Cao Bằng, hướng tới mục tiêu phát triển văn hóa gắn với kinh tế - xã hội bền vững./.

Quốc Đạt/TTXVN
Dân tộc Tày

Tên gọi khác: Thổ.

Dân số: 1.626.392 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.

Hoạt động sản xuất: Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.

Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo... Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.

Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình).

vna_potal_tuyen_quang_gin_giu_nghe_det_tho_cam_cua_nguoi_tay_o_thuong_nong_5693566.jpg
Phụ nữ Tày biết dệt vải, may quần áo từ khi mới 13-14 tuổi. Ảnh: Nam Sương - TTXVN

Ở: Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.

Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.

Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng mảng để chuyên chở.

Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kỳ mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối.

Trong phạm vi thống trị của mình quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối... vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng tô lao dịch, bắt phải đến lao động không công và tô hiện vật, buộc phải cống nạp. Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Cưới xin: Nam nữ Tày được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.

Sinh đẻ: Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại.

Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.

Ma chay: Ðám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.

Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.

Thờ cúng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.

Lễ tết: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.

Lịch: Người Tày theo âm lịch.

Học: Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng... Chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ cái La-tinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp I vùng có người Tày, Nùng cư trú.

Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.

Chơi: Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông, kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng, đánh chắt, chơi ô...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Tày

Có thể bạn quan tâm

Ẩm thực mở lối kết nối du lịch

Ẩm thực mở lối kết nối du lịch

Từ những món ăn gắn với đời sống đồng bào đến các sản vật mang dấu ấn vùng miền, Tuyên Quang đang hướng tới khai thác giá trị văn hóa ẩm thực để làm phong phú trải nghiệm và tăng sức hấp dẫn của điểm đến.

Đánh thức tiềm năng du lịch cộng đồng tại các buôn làng Tây Nguyên

Đánh thức tiềm năng du lịch cộng đồng tại các buôn làng Tây Nguyên

Phát triển du lịch cộng đồng tại các buôn làng dân tộc M’Nông ở Tây Nguyên giữ vai trò thiết yếu trong việc cải thiện sinh kế người dân và bảo tồn bản sắc văn hóa bản địa. Mặc dù đã đạt được những bước tiến tích cực ban đầu, song thực tế vẫn tồn tại nhiều khó khăn, thách thức.

Dốc Thẩm Mã nhộn nhịp mùa du lịch Cao nguyên đá

Dốc Thẩm Mã nhộn nhịp mùa du lịch Cao nguyên đá

Mùa thu cũng là thời điểm du lịch Cao nguyên đá trở nên sôi động, Dốc Thẩm Mã (Tuyên Quang) nhộn nhịp đón du khách trong nước và quốc tế đến tham quan, khám phá. Không chỉ bị cuốn hút bởi cảnh sắc núi non hùng vĩ, những thảm hoa tam giác mạch thơ mộng, du khách còn hào hứng trải nghiệm các hoạt động văn hóa truyền thống, cảm nhận sức hấp dẫn riêng có của vùng đất cực Bắc Tổ quốc.

Những cung đường níu chân du khách ở Lào Cai

Những cung đường níu chân du khách ở Lào Cai

Từ những thửa ruộng bậc thang mùa vàng, những nếp nhà sàn, đồi chè Shan tuyết, cung đường di sản văn hóa ruộng bậc thang tại tỉnh Lào Cai đang được định hình và mang đến hành trình trải nghiệm nhiều sắc thái cho du khách.

Khơi nguồn lực phát triển du lịch

Khơi nguồn lực phát triển du lịch

Hội tụ di sản lịch sử cách mạng, cảnh quan núi đá, hồ sinh thái và nền văn hóa đa dạng của các dân tộc, Tuyên Quang có điều kiện hình thành những hành trình du lịch giàu trải nghiệm.

Xà Phìn - mùa vàng bên mái rêu

Xà Phìn - mùa vàng bên mái rêu

Tháng 10, Xà Phìn (Tuyên Quang) khoác lên mình sắc vàng óng của mùa lúa chín, nổi bật giữa núi rừng Tây Côn Lĩnh. Những thửa ruộng bậc thang uốn lượn bên mái nhà sàn phủ rêu xanh tạo nên bức tranh vùng cao đẹp mê hoặc và bình yên.

Thúc đẩy liên kết, hợp tác phát triển du lịch Tây Bắc

Thúc đẩy liên kết, hợp tác phát triển du lịch Tây Bắc

Sáng 16/10, tại Quảng trường Golden Field, phường Nghĩa Lộ, tỉnh Lào Cai tổ chức khai mạc Hội chợ Du lịch Tây Bắc năm 2026 và Không gian quảng bá, kết nối sản phẩm OCOP nhằm giới thiệu những giá trị nổi bật về du lịch, văn hóa và sản vật của Lào Cai cùng các địa phương khu vực Tây Bắc, tạo không gian giao lưu, trải nghiệm và thúc đẩy liên kết, hợp tác phát triển du lịch.

Sắc hoa tam giác mạch dưới chân Cột cờ Tổ quốc

Sắc hoa tam giác mạch dưới chân Cột cờ Tổ quốc

Những ngày đầu tháng 10, vùng đất dưới chân Cột cờ quốc gia Lũng Cú (tỉnh Tuyên Quang) bước vào mùa hoa đẹp nhất trong năm, thu hút du khách tìm về thưởng ngoạn cảnh sắc, khám phá văn hóa và trải nghiệm cuộc sống của đồng bào vùng cao. Với khoảng 70ha tam giác mạch cùng không gian du lịch đang tiếp tục được chỉnh trang, làm mới, Lũng Cú hứa hẹn trở thành điểm hẹn hấp dẫn trong mùa du lịch cuối năm 2026.

Thác Bản Giốc - bản hùng ca non nước Cao Bằng

Thác Bản Giốc - bản hùng ca non nước Cao Bằng

Thác Bản Giốc (xã Đàm Thủy, tỉnh Cao Bằng) được ví như “viên ngọc” trên chiếc “vương miện” du lịch Cao Bằng. Với cảnh vật nên thơ và hùng vĩ, mỗi năm Thác Bản Giốc thu hút hàng trăm nghìn lượt du khách đến tham quan, để lắng nghe "hơi thở" của đá và nước, để cảm nhận vẻ đẹp bất tận của non nước vùng biên cương phía Bắc Tổ quốc.

Nơi thời gian dừng lại cùng kiến trúc Chăm cổ

Nơi thời gian dừng lại cùng kiến trúc Chăm cổ

Nổi bật trên ngọn đồi Trầu, phường Đô Vinh, tỉnh Khánh Hòa là những ngọn tháp gạch đỏ Po Klong Garai. Qua nhiều thế kỷ, quần thể kiến trúc này vẫn lưu giữ dấu ấn nghệ thuật Chăm, cũng là nơi cộng đồng người Chăm tiếp nối các nghi lễ tín ngưỡng, gìn giữ ký ức văn hóa.

Điện Biên đánh thức tiềm năng du lịch vùng biên Thanh Yên

Điện Biên đánh thức tiềm năng du lịch vùng biên Thanh Yên

Nằm ở khu vực biên giới của tỉnh Điện Biên, xã Thanh Yên sở hữu nhiều lợi thế để phát triển du lịch với cảnh quan thiên nhiên đa dạng, nguồn khoáng nóng, thác nước, sông suối cùng hệ thống di sản văn hóa phong phú của đồng bào các dân tộc.

Du lịch Lào Cai: Kỳ thú bay trên mùa vàng Khau Phạ

Du lịch Lào Cai: Kỳ thú bay trên mùa vàng Khau Phạ

Được mệnh danh là một trong "tứ đại đỉnh đèo" của Việt Nam, là “huyền thoại Cổng trời Yên Bái”, những năm gần đây, đèo Khau Phạ được biết đến nhiều hơn nhờ dịch vụ dù lượn.

Sức hút từ điểm đến Ngọc Côn mùa vàng

Sức hút từ điểm đến Ngọc Côn mùa vàng

Cứ mỗi độ tháng 9, tháng 10, thung lũng Ngọc Côn (xã Đình Phong, tỉnh Cao Bằng) lại khoác lên mình tấm áo vàng óng rực rỡ, bừng sáng cả một miền biên viễn. Dù chưa được đầu tư hay khai thác du lịch bài bản, vẻ đẹp hoang sơ, nguyên bản của vùng đất này đang tạo nên sức hút đặc biệt đối với du khách trong và ngoài nước.