Củng cố y tế cơ sở, đảm bảo chăm sóc sức khỏe cho người dân vùng cao

Đầu tư, củng cố hệ thống y tế cơ sở đang trở thành nền tảng quan trọng nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân, nhất là tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa và khu vực biên giới của tỉnh Sơn La.

son-la1-1405.jpg
Vợ chồng Anh Thào A Thái (bản Háng Đồng) đưa con gái 13 tháng tuổi tiêm chủng tại Trạm Y tế xã Tà Xùa.

Tạo lá chắn phòng dịch bệnh từ cơ sở

Nằm cách trung tâm tỉnh Sơn La hơn 100 km, Tà Xùa là xã vùng cao đặc biệt khó khăn với địa hình chia cắt, dân cư phân tán, gần 97% là đồng bào Mông sinh sống. Chính vì thế, công tác khám chữa bệnh ban đầu cho người dân tại Trạm Y tế xã đặc biệt quan trọng. Mỗi ngày, các y, bác sĩ nơi đây luôn tận tâm với công việc khám chữa bệnh, tiêm chủng và theo dõi sức khỏe cho người dân.

Không chỉ thực hiện nhiệm vụ khám chữa bệnh thông thường, đội ngũ y tế cơ sở tại đây còn thường xuyên xuống bản tuyên truyền phòng, chống dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, vận động người dân tham gia tiêm chủng và thay đổi các tập quán ảnh hưởng tới sức khỏe.

Đưa vợ và con gái 13 tháng tuổi xuống tiêm chủng tại Trạm Y tế xã Tà Xùa, anh Thào A Thái (bản Háng Đồng) chia sẻ, trước đây, mỗi lần con nhỏ ốm đau, gia đình phải xuống trung tâm huyện (cũ) rất vất vả. Hiện nay, Trạm Y tế xã có nhiều bác sĩ, thuốc đầy đủ nên nhiều bệnh đã được điều trị ngay tại cơ sở. Cán bộ y tế thường xuyên xuống bản tuyên truyền phòng bệnh, nhắc người dân đưa trẻ đi tiêm vaccine. Khi người dân trên bản đau ốm được hỗ trợ nhanh hơn trước nên ai cũng yên tâm.

son-la2-1405.jpg
Trạm trưởng Trạm Y tế xã Tà Xùa Hà Văn Biến trực tiếp thăm khám cho bệnh nhân.

Theo Trạm trưởng Trạm Y tế xã Tà Xùa Hà Văn Biến, địa bàn xã sau sáp nhập rộng, điều kiện đi lại khó khăn, đội ngũ viên chức còn mỏng, dù vậy, đơn vị vẫn duy trì hiệu quả nhiều chương trình y tế cộng đồng. Trong tháng 4/2026, đơn vị tổ chức khám chữa bệnh cho 138 lượt người dân; triển khai khám sức khỏe học đường cho hơn 3.500 học sinh, tổ chức cân, theo dõi dinh dưỡng trẻ nhỏ và quản lý các bệnh không lây nhiễm như, tăng huyết áp, tiểu đường tại cộng đồng.

Các hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe được triển khai đa dạng thông qua hệ thống loa truyền thanh, nhóm Zalo y tế bản và tuyên truyền trực tiếp tại cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức người dân về phòng, chống dịch bệnh, vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm.

Tại xã khu vực biên giới Phiêng Khoài, Trạm Y tế xã đang phát huy vai trò trong chăm sóc sức khỏe nhân dân tại cơ sở. Trong tháng 4/2026, đơn vị thực hiện 227 lượt khám chữa bệnh, duy trì giám sát dịch tại 30/30 bản; đồng thời, triển khai tiêm chủng định kỳ cho trẻ em và phụ nữ mang thai.

son-la3-1405.jpg
Cán bộ Y tế Trạm Y tế xã Tà Xùa thường xuyên đi đến từng bản, từng nhà thực hiện tuyên truyền, vận động người dân trong công tác phòng chống dịch bệnh cộng đồng, chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em.

Trạm trưởng Trạm Y tế xã Phiêng Khoài Vũ Huy Thông cho biết, công tác y tế cơ sở tại địa bàn biên giới luôn được đơn vị duy trì thường xuyên nhằm kịp thời phát hiện, xử lý các nguy cơ dịch bệnh ngay từ cộng đồng. Trạm Y tế xã duy trì giám sát dịch chặt chẽ ở 30/30 bản, tiếp tục thực hiện tốt công tác khám bệnh, chữa bệnh tại trạm, đảm bảo quyền lợi của người dân khi khám bệnh thông qua bảo hiểm y tế.

Đơn vị đang tiếp tục rà soát trường hợp trẻ chưa tiêm hoặc thiếu mũi tiêm để tổ chức tiêm chủng đầy đủ, phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể đẩy mạnh tuyên truyền phòng chống dịch bệnh, an toàn thực phẩm và quản lý sức khỏe cộng đồng tại khu vực biên giới.

Nâng chất lượng y tế cơ sở từ gốc

Theo báo cáo của Sở Y tế Sơn La, trong quý I/2026, toàn ngành tiếp tục duy trì ổn định hoạt động khám chữa bệnh, chủ động kiểm soát dịch bệnh và triển khai hiệu quả các chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

Đặc biệt đã thực hiện khám và điều trị cho 379.569 lượt người; trong đó, điều trị nội trú đạt 62.571 người, điều trị ngoại trú 181.082 lượt người và số bệnh nhân chuyển tuyến là 30.991 lượt. Những con số này cho thấy hệ thống y tế cơ sở và tuyến trên đã hoạt động hiệu quả, bảo đảm công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trên địa bàn.

son-la4-1405.jpg
Cán bộ Y tế Trạm Y tế xã Tà Xùa thường xuyên đi đến từng bản, từng nhà thực hiện tuyên truyền, vận động người dân trong công tác phòng chống dịch bệnh cộng đồng, chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em.

Bà Vì Thị Lá, 75 tuổi, ở bản Bó Sinh (xã Phiêng Khoài) đã khám và điều trị bệnh tại Trạm Y tế xã trong nhiều năm qua cho biết, Trạm Y tế xã ngày càng được nâng cấp, đội ngũ y, bác sĩ có chuyên môn, chu đáo, nhiệt tình thăm khám. Bà tuổi cao được Trạm Y tế xã cấp phát thuốc và khám bệnh định kỳ theo bảo hiểm y tế không phải đi xa, sức khỏe đảm bảo.

Trong bối cảnh nguy cơ dịch bệnh truyền nhiễm vẫn tiềm ẩn tại nhiều địa phương, ngành Y tế Sơn La tiếp tục duy trì giám sát chặt chẽ các bệnh có nguy cơ bùng phát như, sởi, tay chân miệng, quai bị… chủ động phát hiện sớm, xử lý kịp thời ổ dịch, không để lây lan diện rộng. Tỉnh đang tập trung củng cố mạng lưới y tế cơ sở. Đồng thời, Sơn La thực hiện điều chuyển 380 biên chế từ 12 Trung tâm Y tế khu vực về 75 trạm y tế xã, phường nhằm tăng cường nhân lực cho tuyến cơ sở.

Giám đốc Sở Y tế Sơn La Nguyễn Đức Toàn cho biết, ngành Y tế đang tập trung nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống y tế cơ sở, nhất là tại các xã vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới; đồng thời, chủ động kiểm soát dịch bệnh, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. Ngành Y tế tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, triển khai bệnh án điện tử, liên thông dữ liệu khám chữa bệnh, tăng cường chỉ đạo tuyến, chuyển giao kỹ thuật, giảm quá tải tuyến trên và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em.

son-la5-1405.jpg
Vợ chồng Anh Thào A Thái (bản Háng Đồng) đua con gái 13 tháng tuổi tiêm chủng tại Trạm Y tế xã Tà Xùa.

Sơn La đang xây dựng cơ chế, chính sách thu hút bác sĩ, dược sĩ về công tác tại địa phương giai đoạn 2026-2030, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế tuyến xã. Cùng với đầu tư cơ sở vật chất, ngành Y tế tỉnh đang đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý khám chữa bệnh, triển khai khám chữa bệnh bằng căn cước công dân gắn chíp, xây dựng dữ liệu ngành Y tế và nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành.

Từ thực tế tại Sơn La cho thấy, việc củng cố mạng lưới y tế cơ sở đã giúp nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân, từng bước tạo điều kiện để người dân vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới được tiếp cận công bằng với các dịch vụ y tế thiết yếu ngay tại địa phương. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển bền vững khu vực miền núi, vùng cao, biên giới của Sơn La./.

Dân tộc Dao

Tên tự gọi: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng).

Tên gọi khác: Mán.

Nhóm địa phương: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài).

Dân số: 751.067 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao.

Lịch sử: Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở người Dao.

Hoạt động sản xuất: Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở người Dao. Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay khác nổi trội lên như: Người Dao Quần Trắng, Dao áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước. Người Dao Ðỏ - thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai... Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê.

Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm.

Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu...

Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma. Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật.

Ăn: Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo. Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong, người ra kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết.

Phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại uống hoãng, thứ rượu không qua trưng cất, có vị chua và ít cay.

Người Dao thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.

Mặc: Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau. áo có hai loại, áo dài và áo ngắn.

Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần. Y phục theo rất sặc sỡ. Họ không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chẩy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm.

: Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi miền Bắc. Tuy nhiên một số nhóm như Dao Quần trắng ở thung lũng, còn Dao Ðỏ lại ở trên núi cao. Thôn xóm phần nhiều phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau, tuỳ nơi họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.

Phương tiện vận chuyển: Người Dao ở vùng cao quen dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.

Quan hệ xã hội: Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ.

Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là các họ Bàn, Ðặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi, đẻ ngay trong buồng ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ người ta treo cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày thì làm lễ cúng mụ.

Cưới xin: Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.

Ma chay: Thày tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có người chết con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt. Người ta kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình. Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. ở một số nơi có tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.

Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết, ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà, ngày thứ ba lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê cũ ở Dương Châu.


Nhà mới: Muốn làm nhà phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là tuổi chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng. Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt. Sáng hôm sau ra xem hỗ, các hạt gạo vẫn giữa nguyên vị trí là có thể làm nhà được.

Thờ cúng: Người Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Ðạo giáo. Bàn vương được coi là thuỷ tổ của người Dao nên được cúng chung với tổ tiên từng gia đình. Theo truyền thống tất cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc. một nghi lễ vừa mang tính chất của Ðạo giáo, vừa mang những vết của lễ thành đinh xa xưa.

Lịch: Người Dao quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất và sinh hoạt.

Học: Hầu hết các xóm thôn người Dao đều có người biết chữ Hán, nôm Dao. Người ta học chữ để đọc sách cúng, sách truyện, thơ.

Văn nghệ: Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca. Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, Sự tích Bàn Vương rất phổ biến trong người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo.

Chơi: Người Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Dao
Dân tộc Mông

Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.

Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.

Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.

Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.

Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...

Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.

Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.

Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.

Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.

Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.

Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.

Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.

Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.

Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.

Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.

Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt.jpg
Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt

: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.

Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.

Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.

Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.

Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.

Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.

Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.

Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...

Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.

Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.

Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.

Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.

Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.

Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).

Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung.jpg
Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung

Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Mông
Dân tộc Tày

Tên gọi khác: Thổ.

Dân số: 1.626.392 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.

Hoạt động sản xuất: Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.

Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo... Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.

Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình).

vna_potal_tuyen_quang_gin_giu_nghe_det_tho_cam_cua_nguoi_tay_o_thuong_nong_5693566.jpg
Phụ nữ Tày biết dệt vải, may quần áo từ khi mới 13-14 tuổi. Ảnh: Nam Sương - TTXVN

: Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.

Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.

Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng mảng để chuyên chở.

Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kỳ mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối.

Trong phạm vi thống trị của mình quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối... vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng tô lao dịch, bắt phải đến lao động không công và tô hiện vật, buộc phải cống nạp. Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Cưới xin: Nam nữ Tày được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.

Sinh đẻ: Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại.

Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.

Ma chay: Ðám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.

Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.

Thờ cúng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.

Lễ tết: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.

Lịch: Người Tày theo âm lịch.

Học: Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng... Chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ cái La-tinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp I vùng có người Tày, Nùng cư trú.

Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.

Chơi: Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông, kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng, đánh chắt, chơi ô...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Tày

Có thể bạn quan tâm

Tăng tốc về đích, sẵn sàng đón học sinh vùng biên đến trường

Tăng tốc về đích, sẵn sàng đón học sinh vùng biên đến trường

Sau gần 9 tháng tích cực triển khai, dự án xây dựng hai trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và Trung học cơ sở (THCS) tại xã Hương Khê và xã Sơn Kim 1 (Hà Tĩnh) đã đạt trên 95% khối lượng. Các nhà thầu đang tập trung tối đa nhân lực, máy móc, đẩy nhanh tiến độ, phấn đấu hoàn thành công trình trước ngày 30/8/2026, kịp phục vụ năm học mới 2026 - 2027.

Gỡ vướng cho gần 3.000 cơ sở nuôi chim yến theo quy định mới

Gỡ vướng cho gần 3.000 cơ sở nuôi chim yến theo quy định mới

Sau khi HĐND tỉnh Gia Lai ban hành Nghị quyết số 53/2026/NQ-HĐND quy định khu vực không được phép chăn nuôi và vùng nuôi chim yến, các địa phương đã đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn người dân triền khai thực hiện. Ghi nhận tại phường Ayun Pa, nơi có nhiều cơ sở nuôi chim yến nhất khu vực phía Tây tỉnh Gia Lai cho thấy chủ trương nhận được sự đồng thuận của người dân, song quá trình triển khai còn phát sinh một số khó khăn cần được tháo gỡ.

Kích hoạt 'báo động đỏ' để thúc giải ngân đầu tư công

Kích hoạt 'báo động đỏ' để thúc giải ngân đầu tư công

Theo UBND tỉnh Đắk Lắk, giải ngân vốn đầu tư công của Tỉnh có chuyển biến nhưng vẫn chưa đạt kế hoạch đề ra. Cụ thể tổng kế hoạch đầu tư công năm 2026 của tỉnh là trên 11,1 nghìn tỷ đồng, đến nay đã phân bổ chi tiết vốn hơn 9,6 nghìn tỷ đồng. Tính đến 31/7, đã giải ngân 3,27 nghìn tỷ đồng, đạt hơn 34% kế hoạch. Để kịch bản giải ngân đạt 68% theo kế hoạch trước ngày 30/9, tỉnh phải giải ngân hơn 4,1 nghìn tỷ đồng trong tháng 8 và 9.

Mở rộng kết nối, hình thành nền y tế số

Mở rộng kết nối, hình thành nền y tế số

Chuyển đổi số đang từng bước thay đổi phương thức khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế tỉnh Đắk Lắk. Người dân đã được tiếp cận nhiều tiện ích như sử dụng căn cước công dân, hồ sơ bệnh án điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt...; trong khi các bệnh viện tiếp tục ứng dụng công nghệ để cải tiến quy trình chuyên môn, nâng cao chất lượng phục vụ.

Gia Lai chấn chỉnh tình trạng mua bán, gian lận mã số vùng trồng

Gia Lai chấn chỉnh tình trạng mua bán, gian lận mã số vùng trồng

Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai Phạm Anh Tuấn vừa có văn bản yêu cầu các sở, ngành, đơn vị, địa phương tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp nhằm chấn chỉnh, xử lý nghiêm tình trạng mua bán, gian lận giấy chứng nhận cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.

Giữ màu xanh rừng lim cổ thụ nơi biên giới Hà Tĩnh

Giữ màu xanh rừng lim cổ thụ nơi biên giới Hà Tĩnh

Hơn 60 ha rừng lim xanh với hàng nghìn cây gỗ quý trong đó có những cây lên tới 100 năm tại vùng biên giới Hà Tĩnh đang được Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp và Dịch vụ Hương Sơn bảo vệ nghiêm ngặt.

Hiệu quả các chính sách vùng đồng bào Khmer ở An Giang

Hiệu quả các chính sách vùng đồng bào Khmer ở An Giang

Những con đường bê tông nối dài, những ngôi nhà kiên cố, cùng các mô hình sản xuất, làng nghề truyền thống ngày một khởi sắc đang cho thấy diện mạo mới ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh An Giang đang đổi thay từng ngày.

Thống nhất nguồn lực phát triển nông thôn mới và vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2026 - 2030

Thống nhất nguồn lực phát triển nông thôn mới và vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2026 - 2030

Năm 2026 là năm đầu tiên triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2030. Việc tích hợp ba chương trình trước đây nhằm thống nhất nguồn lực, giảm trùng lặp và nâng cao hiệu quả đầu tư.

Dự án xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp hối hả về đích

Dự án xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp hối hả về đích

Để bảo đảm hoàn thành xây dựng giai đoạn I và kịp thời tổ chức lễ khai giảng năm học mới 2026-2027 đồng loạt vào ngày 5/9 tới, tỉnh Tuyên Quang đang huy động tối đa nguồn lực, quyết tâm tăng tốc đưa các dự án Trường phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở đi vào hoạt động đúng kế hoạch.

Đắk Lắk ra mắt Bản đồ số nông sản và phát động chiến dịch '30 ngày đêm' chuẩn hóa dữ liệu sầu riêng

Đắk Lắk ra mắt Bản đồ số nông sản và phát động chiến dịch '30 ngày đêm' chuẩn hóa dữ liệu sầu riêng

Ngày 7/8, UBND tỉnh Đắk Lắk tổ chức Hội nghị công bố ra mắt “Bản đồ số nông sản, sản phẩm OCOP, du lịch thôn buôn trên nền tảng số” và phát động chiến dịch cao điểm “30 ngày đêm” số hóa, chuẩn hóa, cập nhật và kết nối dữ liệu mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói sầu riêng trên địa bàn tỉnh. Đây được xem là bước đi chiến lược nhằm tích hợp đồng bộ công nghệ số vào chuỗi giá trị nông nghiệp và phát triển nông thôn địa phương.

Đa dạng hóa mô hình sinh kế giúp đồng bào Khmer giảm nghèo bền vững

Đa dạng hóa mô hình sinh kế giúp đồng bào Khmer giảm nghèo bền vững

Chương trình mục tiêu quốc gia đang phát huy vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác bảo đảm an sinh xã hội, trở thành đòn bẩy thiết thực giúp đồng bào dân tộc thiểu số vươn lên. Tại Cần Thơ, thông qua việc triển khai đồng bộ các nguồn lực, mô hình hỗ trợ chăn nuôi bò sinh sản đang mang lại hiệu quả rõ nét, giúp nhiều hộ đồng bào Khmer ổn định sinh kế, thoát nghèo bền vững và đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Hiệu quả từ chính sách hỗ trợ học sinh vùng xa, vùng biên giới

Hiệu quả từ chính sách hỗ trợ học sinh vùng xa, vùng biên giới

Đối với nhiều học sinh vùng xa, vùng biên giới Tây Ninh, những bữa cơm bán trú không chỉ giúp các em có thêm dinh dưỡng mà còn tiếp thêm động lực để duy trì việc đến trường mỗi ngày. Chính sách hỗ trợ gạo của Nhà nước đang được địa phương triển khai hiệu quả, góp phần giảm bớt gánh nặng cho gia đình, bảo đảm điều kiện học tập cho học sinh và nâng cao chất lượng tổ chức bán trú tại các cơ sở giáo dục.

Bảo đảm điều kiện học tập cho học sinh vùng biên

Bảo đảm điều kiện học tập cho học sinh vùng biên

Đắk Lắk đang khẩn trương hoàn thiện điều kiện để đưa các trường phổ thông nội trú liên cấp tại khu vực biên giới vào hoạt động từ năm học 2026 - 2027, góp phần bảo đảm điều kiện học tập, sinh hoạt cho học sinh vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Bất cập việc ngừng giao khoán quản lý, bảo vệ rừng ở Nam Cát Tiên

Bất cập việc ngừng giao khoán quản lý, bảo vệ rừng ở Nam Cát Tiên

Ban Quản lý rừng phòng hộ Nam Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng đang ngừng hợp đồng giao khoán quản lý, bảo vệ rừng với gần 200 hộ dân là hộ đồng bào dân tộc thiểu số và hộ người Kinh thuộc diện nghèo. Việc làm này khiến hầu hết các hộ dân không đồng tình, trong khi chính quyền địa phương đánh giá việc giao khoán là một mô hình hiệu quả, hài hòa giữa giữ rừng và an sinh xã hội cho người dân.

Khẳng định vị thế tiên phong về y tế của khu vực miền Trung - Tây Nguyên

Khẳng định vị thế tiên phong về y tế của khu vực miền Trung - Tây Nguyên

Thành phố Đà Nẵng đặt mục tiêu xây dựng và phát triển ngành y tế đến năm 2030 đáp ứng yêu cầu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe của người dân để trở thành hạt nhân của trung tâm y tế chuyên sâu, khám chữa bệnh chất lượng cao của khu vực và hội nhập quốc tế. Với sự đầu tư đồng bộ về cơ sở vật chất, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và ứng dụng công nghệ hiện đại, Đà Nẵng đang từng bước khẳng định vị thế tiên phong về y tế của khu vực miền Trung - Tây Nguyên.

Quản lý và cấp mã số vùng trồng tạo 'luồng xanh' cho xuất khẩu

Quản lý và cấp mã số vùng trồng tạo 'luồng xanh' cho xuất khẩu

Trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu về chất lượng và truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng đang trở thành một trong những điều kiện quan trọng để nông sản Lâm Đồng tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Từ mở rộng diện tích được cấp mã số, tỉnh đang tăng cường hậu kiểm, quản lý dữ liệu và kiểm soát chặt nguồn gốc nông sản để tạo “luồng xanh” cho xuất khẩu chính ngạch.

Gia cố thế trận chống buôn lậu trên tuyến biên giới Tây Ninh

Gia cố thế trận chống buôn lậu trên tuyến biên giới Tây Ninh

Hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại và vận chuyển trái phép hàng hóa luôn đặt ra yêu cầu cao đối với công tác quản lý, kiểm soát biên giới. Trước phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, Tây Ninh đang tăng cường phối hợp giữa các lực lượng, chủ động nhận diện nguy cơ, triển khai đồng bộ các giải pháp, từng bước gia cố thế trận chống buôn lậu từ tuyến biên giới đến nội địa.

Quảng Trị phân bổ hơn 2.134 tỷ đồng cho ba Chương trình mục tiêu quốc gia

Quảng Trị phân bổ hơn 2.134 tỷ đồng cho ba Chương trình mục tiêu quốc gia

Tỉnh Quảng Trị vừa ban hành Quyết định phân bổ kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 và kế hoạch năm 2026 từ nguồn vốn ngân sách trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Đưa Nghị quyết 57 vào từng công việc ở cơ sở

Đưa Nghị quyết 57 vào từng công việc ở cơ sở

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính thúc đẩy phát triển.

Xác minh vụ cưa hạ nhiều cây xanh trong khuôn viên trụ sở xã ở Gia Lai

Xác minh vụ cưa hạ nhiều cây xanh trong khuôn viên trụ sở xã ở Gia Lai

Hàng chục cây xanh trong khuôn viên trụ sở xã H'Bông cũ, nay là xã Ia Hrú đã bị cưa hạ tận gốc, điều này đặt ra “dấu hỏi’’ về công tác quản lý tài sản công sau sáp nhập tại một số địa phương ở Gia Lai. Đáng chú ý, đây là địa phương thứ ba tại Gia Lai xuất hiện phản ánh liên quan đến trách nhiệm quản lý tài sản công sau sáp nhập.

Quảng Ngãi: Sáp nhập thôn - Hòa nhập cùng phát triển

Quảng Ngãi: Sáp nhập thôn - Hòa nhập cùng phát triển

Sau sắp xếp, sáp nhập thôn, tổ dân phố, tỉnh Quảng Ngãi hiện còn 1.098 thôn, tổ dân phố, giảm 612 đơn vị so với trước sắp xếp. Đáng chú ý, nhiều thôn ở phía Tây tỉnh Quảng Ngãi được sáp nhập từ các thôn cũ có nhiều dân tộc khác nhau, tạo nên thôn mới đa dạng hơn về thành phần dân tộc; đồng thời bà con hỗ trợ nhau trong phát triển kinh tế, nâng cao đời sống.