Củng cố y tế cơ sở, đảm bảo chăm sóc sức khỏe cho người dân vùng cao

Đầu tư, củng cố hệ thống y tế cơ sở đang trở thành nền tảng quan trọng nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân, nhất là tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa và khu vực biên giới của tỉnh Sơn La.

son-la1-1405.jpg
Vợ chồng Anh Thào A Thái (bản Háng Đồng) đưa con gái 13 tháng tuổi tiêm chủng tại Trạm Y tế xã Tà Xùa.

Tạo lá chắn phòng dịch bệnh từ cơ sở

Nằm cách trung tâm tỉnh Sơn La hơn 100 km, Tà Xùa là xã vùng cao đặc biệt khó khăn với địa hình chia cắt, dân cư phân tán, gần 97% là đồng bào Mông sinh sống. Chính vì thế, công tác khám chữa bệnh ban đầu cho người dân tại Trạm Y tế xã đặc biệt quan trọng. Mỗi ngày, các y, bác sĩ nơi đây luôn tận tâm với công việc khám chữa bệnh, tiêm chủng và theo dõi sức khỏe cho người dân.

Không chỉ thực hiện nhiệm vụ khám chữa bệnh thông thường, đội ngũ y tế cơ sở tại đây còn thường xuyên xuống bản tuyên truyền phòng, chống dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, vận động người dân tham gia tiêm chủng và thay đổi các tập quán ảnh hưởng tới sức khỏe.

Đưa vợ và con gái 13 tháng tuổi xuống tiêm chủng tại Trạm Y tế xã Tà Xùa, anh Thào A Thái (bản Háng Đồng) chia sẻ, trước đây, mỗi lần con nhỏ ốm đau, gia đình phải xuống trung tâm huyện (cũ) rất vất vả. Hiện nay, Trạm Y tế xã có nhiều bác sĩ, thuốc đầy đủ nên nhiều bệnh đã được điều trị ngay tại cơ sở. Cán bộ y tế thường xuyên xuống bản tuyên truyền phòng bệnh, nhắc người dân đưa trẻ đi tiêm vaccine. Khi người dân trên bản đau ốm được hỗ trợ nhanh hơn trước nên ai cũng yên tâm.

son-la2-1405.jpg
Trạm trưởng Trạm Y tế xã Tà Xùa Hà Văn Biến trực tiếp thăm khám cho bệnh nhân.

Theo Trạm trưởng Trạm Y tế xã Tà Xùa Hà Văn Biến, địa bàn xã sau sáp nhập rộng, điều kiện đi lại khó khăn, đội ngũ viên chức còn mỏng, dù vậy, đơn vị vẫn duy trì hiệu quả nhiều chương trình y tế cộng đồng. Trong tháng 4/2026, đơn vị tổ chức khám chữa bệnh cho 138 lượt người dân; triển khai khám sức khỏe học đường cho hơn 3.500 học sinh, tổ chức cân, theo dõi dinh dưỡng trẻ nhỏ và quản lý các bệnh không lây nhiễm như, tăng huyết áp, tiểu đường tại cộng đồng.

Các hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe được triển khai đa dạng thông qua hệ thống loa truyền thanh, nhóm Zalo y tế bản và tuyên truyền trực tiếp tại cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức người dân về phòng, chống dịch bệnh, vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm.

Tại xã khu vực biên giới Phiêng Khoài, Trạm Y tế xã đang phát huy vai trò trong chăm sóc sức khỏe nhân dân tại cơ sở. Trong tháng 4/2026, đơn vị thực hiện 227 lượt khám chữa bệnh, duy trì giám sát dịch tại 30/30 bản; đồng thời, triển khai tiêm chủng định kỳ cho trẻ em và phụ nữ mang thai.

son-la3-1405.jpg
Cán bộ Y tế Trạm Y tế xã Tà Xùa thường xuyên đi đến từng bản, từng nhà thực hiện tuyên truyền, vận động người dân trong công tác phòng chống dịch bệnh cộng đồng, chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em.

Trạm trưởng Trạm Y tế xã Phiêng Khoài Vũ Huy Thông cho biết, công tác y tế cơ sở tại địa bàn biên giới luôn được đơn vị duy trì thường xuyên nhằm kịp thời phát hiện, xử lý các nguy cơ dịch bệnh ngay từ cộng đồng. Trạm Y tế xã duy trì giám sát dịch chặt chẽ ở 30/30 bản, tiếp tục thực hiện tốt công tác khám bệnh, chữa bệnh tại trạm, đảm bảo quyền lợi của người dân khi khám bệnh thông qua bảo hiểm y tế.

Đơn vị đang tiếp tục rà soát trường hợp trẻ chưa tiêm hoặc thiếu mũi tiêm để tổ chức tiêm chủng đầy đủ, phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể đẩy mạnh tuyên truyền phòng chống dịch bệnh, an toàn thực phẩm và quản lý sức khỏe cộng đồng tại khu vực biên giới.

Nâng chất lượng y tế cơ sở từ gốc

Theo báo cáo của Sở Y tế Sơn La, trong quý I/2026, toàn ngành tiếp tục duy trì ổn định hoạt động khám chữa bệnh, chủ động kiểm soát dịch bệnh và triển khai hiệu quả các chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

Đặc biệt đã thực hiện khám và điều trị cho 379.569 lượt người; trong đó, điều trị nội trú đạt 62.571 người, điều trị ngoại trú 181.082 lượt người và số bệnh nhân chuyển tuyến là 30.991 lượt. Những con số này cho thấy hệ thống y tế cơ sở và tuyến trên đã hoạt động hiệu quả, bảo đảm công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trên địa bàn.

son-la4-1405.jpg
Cán bộ Y tế Trạm Y tế xã Tà Xùa thường xuyên đi đến từng bản, từng nhà thực hiện tuyên truyền, vận động người dân trong công tác phòng chống dịch bệnh cộng đồng, chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em.

Bà Vì Thị Lá, 75 tuổi, ở bản Bó Sinh (xã Phiêng Khoài) đã khám và điều trị bệnh tại Trạm Y tế xã trong nhiều năm qua cho biết, Trạm Y tế xã ngày càng được nâng cấp, đội ngũ y, bác sĩ có chuyên môn, chu đáo, nhiệt tình thăm khám. Bà tuổi cao được Trạm Y tế xã cấp phát thuốc và khám bệnh định kỳ theo bảo hiểm y tế không phải đi xa, sức khỏe đảm bảo.

Trong bối cảnh nguy cơ dịch bệnh truyền nhiễm vẫn tiềm ẩn tại nhiều địa phương, ngành Y tế Sơn La tiếp tục duy trì giám sát chặt chẽ các bệnh có nguy cơ bùng phát như, sởi, tay chân miệng, quai bị… chủ động phát hiện sớm, xử lý kịp thời ổ dịch, không để lây lan diện rộng. Tỉnh đang tập trung củng cố mạng lưới y tế cơ sở. Đồng thời, Sơn La thực hiện điều chuyển 380 biên chế từ 12 Trung tâm Y tế khu vực về 75 trạm y tế xã, phường nhằm tăng cường nhân lực cho tuyến cơ sở.

Giám đốc Sở Y tế Sơn La Nguyễn Đức Toàn cho biết, ngành Y tế đang tập trung nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống y tế cơ sở, nhất là tại các xã vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới; đồng thời, chủ động kiểm soát dịch bệnh, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. Ngành Y tế tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, triển khai bệnh án điện tử, liên thông dữ liệu khám chữa bệnh, tăng cường chỉ đạo tuyến, chuyển giao kỹ thuật, giảm quá tải tuyến trên và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em.

son-la5-1405.jpg
Vợ chồng Anh Thào A Thái (bản Háng Đồng) đua con gái 13 tháng tuổi tiêm chủng tại Trạm Y tế xã Tà Xùa.

Sơn La đang xây dựng cơ chế, chính sách thu hút bác sĩ, dược sĩ về công tác tại địa phương giai đoạn 2026-2030, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế tuyến xã. Cùng với đầu tư cơ sở vật chất, ngành Y tế tỉnh đang đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý khám chữa bệnh, triển khai khám chữa bệnh bằng căn cước công dân gắn chíp, xây dựng dữ liệu ngành Y tế và nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành.

Từ thực tế tại Sơn La cho thấy, việc củng cố mạng lưới y tế cơ sở đã giúp nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân, từng bước tạo điều kiện để người dân vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới được tiếp cận công bằng với các dịch vụ y tế thiết yếu ngay tại địa phương. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển bền vững khu vực miền núi, vùng cao, biên giới của Sơn La./.

Dân tộc Dao

Tên tự gọi: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng).

Tên gọi khác: Mán.

Nhóm địa phương: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài).

Dân số: 751.067 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao.

Lịch sử: Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở người Dao.

Hoạt động sản xuất: Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở người Dao. Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay khác nổi trội lên như: Người Dao Quần Trắng, Dao áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước. Người Dao Ðỏ - thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai... Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê.

Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm.

Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu...

Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma. Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật.

Ăn: Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo. Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong, người ra kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết.

Phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại uống hoãng, thứ rượu không qua trưng cất, có vị chua và ít cay.

Người Dao thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.

Mặc: Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau. áo có hai loại, áo dài và áo ngắn.

Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần. Y phục theo rất sặc sỡ. Họ không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chẩy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm.

: Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi miền Bắc. Tuy nhiên một số nhóm như Dao Quần trắng ở thung lũng, còn Dao Ðỏ lại ở trên núi cao. Thôn xóm phần nhiều phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau, tuỳ nơi họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.

Phương tiện vận chuyển: Người Dao ở vùng cao quen dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.

Quan hệ xã hội: Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ.

Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là các họ Bàn, Ðặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi, đẻ ngay trong buồng ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ người ta treo cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày thì làm lễ cúng mụ.

Cưới xin: Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.

Ma chay: Thày tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có người chết con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt. Người ta kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình. Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. ở một số nơi có tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.

Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết, ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà, ngày thứ ba lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê cũ ở Dương Châu.


Nhà mới: Muốn làm nhà phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là tuổi chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng. Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt. Sáng hôm sau ra xem hỗ, các hạt gạo vẫn giữa nguyên vị trí là có thể làm nhà được.

Thờ cúng: Người Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Ðạo giáo. Bàn vương được coi là thuỷ tổ của người Dao nên được cúng chung với tổ tiên từng gia đình. Theo truyền thống tất cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc. một nghi lễ vừa mang tính chất của Ðạo giáo, vừa mang những vết của lễ thành đinh xa xưa.

Lịch: Người Dao quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất và sinh hoạt.

Học: Hầu hết các xóm thôn người Dao đều có người biết chữ Hán, nôm Dao. Người ta học chữ để đọc sách cúng, sách truyện, thơ.

Văn nghệ: Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca. Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, Sự tích Bàn Vương rất phổ biến trong người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo.

Chơi: Người Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Dao
Dân tộc Mông

Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.

Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.

Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.

Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.

Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...

Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.

Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.

Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.

Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.

Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.

Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.

Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.

Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.

Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.

Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.

Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt.jpg
Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt

: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.

Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.

Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.

Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.

Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.

Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.

Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.

Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...

Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.

Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.

Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.

Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.

Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.

Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).

Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung.jpg
Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung

Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Mông
Dân tộc Tày

Tên gọi khác: Thổ.

Dân số: 1.626.392 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.

Hoạt động sản xuất: Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.

Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo... Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.

Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình).

vna_potal_tuyen_quang_gin_giu_nghe_det_tho_cam_cua_nguoi_tay_o_thuong_nong_5693566.jpg
Phụ nữ Tày biết dệt vải, may quần áo từ khi mới 13-14 tuổi. Ảnh: Nam Sương - TTXVN

: Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.

Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.

Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng mảng để chuyên chở.

Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kỳ mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối.

Trong phạm vi thống trị của mình quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối... vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng tô lao dịch, bắt phải đến lao động không công và tô hiện vật, buộc phải cống nạp. Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Cưới xin: Nam nữ Tày được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.

Sinh đẻ: Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại.

Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.

Ma chay: Ðám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.

Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.

Thờ cúng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.

Lễ tết: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.

Lịch: Người Tày theo âm lịch.

Học: Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng... Chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ cái La-tinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp I vùng có người Tày, Nùng cư trú.

Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.

Chơi: Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông, kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng, đánh chắt, chơi ô...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Tày

Có thể bạn quan tâm

Khám và tư vấn sức khỏe miễn phí cho người dân

Khám và tư vấn sức khỏe miễn phí cho người dân

Nhằm giúp người dân chủ động chăm sóc sức khỏe, phát hiện sớm bệnh tật và giảm chi phí điều trị, ngành Y tế tỉnh Điện Biên vừa đồng loạt triển khai chương trình khám, tư vấn sức khỏe miễn phí tại 11 đơn vị y tế trên địa bàn.

Luân phiên bác sĩ về trạm y tế cấp xã ở Gia Lai

Luân phiên bác sĩ về trạm y tế cấp xã ở Gia Lai

Nhằm tăng cường năng lực cho tuyến y tế cơ sở, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân, UBND tỉnh Gia Lai đã ban hành Kế hoạch luân phiên bác sĩ về làm việc có thời hạn tại các trạm y tế cấp xã giai đoạn 2026-2030.

Xây dựng trường nội trú liên cấp ở biên giới trở thành mô hình giáo dục đặc biệt

Xây dựng trường nội trú liên cấp ở biên giới trở thành mô hình giáo dục đặc biệt

Chiều 5/6, làm việc với Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng về công tác phát triển giáo dục và tiến độ xây dựng hệ thống trường nội trú liên cấp tại các xã biên giới, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đánh giá cao sự chủ động, quyết liệt của tỉnh trong triển khai chủ trương xây dựng hệ thống trường phổ thông nội trú tại các xã biên giới và kết quả phát triển giáo dục, đào tạo.

Kiểm soát chặt khu vực biên giới, chống vượt biên trái phép

Kiểm soát chặt khu vực biên giới, chống vượt biên trái phép

Cùng với sự phát triển của hoạt động giao thương, du lịch và hợp tác quốc tế, hoạt động xuất, nhập cảnh qua các cửa khẩu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn những năm gần đây ngày càng trở nên sôi động. Tuy nhiên, bên cạnh các hoạt động hợp pháp thì tình trạng xuất, nhập cảnh trái phép vẫn tiềm ẩn nhiều diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến an ninh trật tự khu vực biên giới, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh các loại tội phạm xuyên quốc gia và nguy cơ lây lan dịch bệnh. Trước thực tế đó, lực lượng Bộ đội Biên phòng trên tuyến biên giới Lạng Sơn triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm chủ động phát hiện, ngăn chặn hiệu quả các hành vi vi phạm.

Hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số

Hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số

HĐND tỉnh Gia Lai khóa XIII ngày 29/5 đã thông qua Nghị quyết quy định chính sách đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn tỉnh nhằm tạo điều kiện cho người dân ổn định nơi ở, phát triển sản xuất, từng bước nâng cao đời sống; góp phần giảm nghèo bền vững và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Tái định hình vị thế trung tâm Tây Nguyên - Bài cuối: Khát vọng trung tâm vùng

Tái định hình vị thế trung tâm Tây Nguyên - Bài cuối: Khát vọng trung tâm vùng

Trong lịch sử phát triển của nhiều vùng kinh tế, luôn có những đô thị giữ vai trò hạt nhân kết nối. Đó không nhất thiết là nơi đông dân nhất hay có tốc độ tăng trưởng cao nhất, mà là nơi có khả năng tập hợp nguồn lực, thu hút đầu tư, dẫn dắt đổi mới và tạo sức lan tỏa đối với không gian xung quanh.

Tái định hình vị thế trung tâm Tây Nguyên - Bài 1: Mở lối hành lang tăng trưởng mới

Tái định hình vị thế trung tâm Tây Nguyên - Bài 1: Mở lối hành lang tăng trưởng mới

Tây Nguyên đang đứng trước một giai đoạn chuyển động mới khi cấu trúc phát triển vùng dần thay đổi dưới tác động của các hành lang kinh tế, mạng lưới đô thị và những động lực tăng trưởng mới. Câu chuyện không còn dừng ở mở rộng hạ tầng hay phát triển từng địa phương riêng lẻ, mà đang hướng tới tổ chức lại không gian phát triển trên quy mô lớn hơn. Trong bối cảnh ấy, Đắk Lắk và đô thị Buôn Ma Thuột đứng trước cơ hội xác lập vai trò trung tâm kết nối, dẫn dắt những dòng chảy mới về sản xuất, dịch vụ và liên kết vùng của Tây Nguyên trong tương lai.

Nghĩa tình chiến sỹ biên phòng xây trường nơi vùng biên

Nghĩa tình chiến sỹ biên phòng xây trường nơi vùng biên

Thực hiện chủ trương của Chính phủ và chỉ đạo của UBND tỉnh Gia Lai về xây dựng hệ thống Trường Phổ thông Nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở tại các xã biên giới, những ngày này, trên công trường xây dựng Trường Phổ thông Nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở xã Ia Púch, không khí lao động đang diễn ra khẩn trương.

Đắk Lắk bảo tồn và phát huy tiềm năng du lịch vườn trà cổ trên đỉnh núi

Đắk Lắk bảo tồn và phát huy tiềm năng du lịch vườn trà cổ trên đỉnh núi

Sau khi khảo sát, phát hiện vườn trà cổ gần 100 năm tuổi trên núi Hòn Chảo (thôn Mỹ Thành, xã Hòa Mỹ, tỉnh Đắk Lắk), lực lượng chức năng và chính quyền địa phương đã lên phương án bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên nơi đây, đồng thời phát triển và khai thác tiềm năng du lịch, tạo sinh kế cho người dân.

Nghệ An đẩy nhanh quy hoạch 5 xã vùng cao, biên giới sau sắp xếp đơn vị hành chính

Nghệ An đẩy nhanh quy hoạch 5 xã vùng cao, biên giới sau sắp xếp đơn vị hành chính

Ngày 26/5, làm việc với 5 xã vùng cao, biên giới gồm Quế Phong, Thông Thụ, Tri Lễ, Mường Quàng và Tiền Phong, Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An Võ Trọng Hải yêu cầu các địa phương khẩn trương rà soát, hoàn thiện công tác quy hoạch, xem đây là nhiệm vụ trọng tâm, có ý nghĩa nền tảng đối với định hướng phát triển lâu dài sau sắp xếp đơn vị hành chính.

Tuyên Quang chủ động, giữ ổn định cơ sở khi sắp xếp thôn, tổ dân phố

Tuyên Quang chủ động, giữ ổn định cơ sở khi sắp xếp thôn, tổ dân phố

Tuyên Quang đang khẩn trương triển khai việc sắp xếp thôn, tổ dân phố gắn với mô hình chính quyền địa phương hai cấp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý ở cơ sở, đồng thời bảo đảm ổn định đời sống nhân dân, giữ vững khối đoàn kết cộng đồng và thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách.

Trải nghiệm thu hoạch cam tại vườn của Hợp tác xã Du lịch cộng đồng ATK Phú Đình.

Thái Nguyên tập trung nguồn lực cho các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn mới

Thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh Thái Nguyên phấn đấu xây dựng nông thôn hiện đại, xanh, thông minh, phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, giảm nghèo đa chiều, bền vững, không để ai bị bỏ lại phía sau, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội.

Sơn La định hướng kết nối tiêu thụ sản phẩm mận

Sơn La định hướng kết nối tiêu thụ sản phẩm mận

Ngày 22/5, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Sơn La phối hợp với UBND xã Yên Sơn tổ chức hội thảo chuyên đề “Nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và định hướng kết nối tiêu thụ sản phẩm mận xã Yên Sơn năm 2026”.

Chuyển đổi số vùng biên mở ra cơ hội phát triển mới

Chuyển đổi số vùng biên mở ra cơ hội phát triển mới

Tại các xã biên giới của tỉnh Lạng Sơn, hình ảnh cán bộ biên phòng, đoàn viên thanh niên, tổ công nghệ số cộng đồng hướng dẫn người dân cài đặt các ứng dụng dịch vụ công, thanh toán không dùng tiền mặt hay sử dụng điện thoại thông minh để trao đổi hàng hóa đã trở nên quen thuộc. Khắp những thôn xóm heo hút chạy dọc đường tuần tra biên giới, chuyển đổi số đang ngấm sâu vào đời sống người dân, mở ra nhiều thay đổi tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh biên giới và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Nhiều mô hình 'Xã, phường không ma túy' đạt kết quả tích cực

Nhiều mô hình 'Xã, phường không ma túy' đạt kết quả tích cực

Sau hơn 2 tháng triển khai, với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, việc triển khai, thực hiện Nghị quyết số 51-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lào Cai về tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng “Xã, phường không ma túy” trên địa bàn tỉnh đã đạt nhiều kết quả tích cực.

Chính sách mới thắp sáng những mái trường vùng cao

Chính sách mới thắp sáng những mái trường vùng cao

Tại nhiều điểm trường vùng cao của tỉnh Tuyên Quang, nơi học sinh từng phải mang theo gạo, rau từ nhà đến lớp, Nghị định 66 của Chính phủ đang từng bước mang đến những đổi thay tích cực cho giáo dục miền núi.

Tăng cường đấu tranh phòng chống tội phạm trên tuyến biên giới

Tăng cường đấu tranh phòng chống tội phạm trên tuyến biên giới

Trong ngày 19-20/5, Thiếu tướng Nguyễn Văn Thiện, Phó Tư lệnh Bộ đội Biên phòng dẫn đầu đoàn công tác đã kiểm tra kết quả thực hiện nhiệm vụ công tác trinh sát, phòng, chống ma túy và tội phạm, công tác cửa khẩu năm 2025 và 4 tháng của năm 2026 tại Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Trị, Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo và Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế La Lay.

Tiếp thêm động lực cho nông dân vùng biên phát triển kinh tế

Tiếp thêm động lực cho nông dân vùng biên phát triển kinh tế

Ngày 17/5, tại xã Phước Vinh, Tây Ninh, báo Tuổi Trẻ, Công ty cổ phần GREENFEED Việt Nam phối hợp cùng Hội Nông dân và Tỉnh đoàn Tây Ninh tổ chức lễ trao vốn Chương trình “Tiếp sức nhà nông” cho 40 hộ nông dân có hoàn cảnh khó khăn, có con em vượt khó học giỏi.

Xử phạt, chấn chỉnh các hành vi vi phạm về đất đai tại Lâm Đồng

Xử phạt, chấn chỉnh các hành vi vi phạm về đất đai tại Lâm Đồng

Ngành chức năng, chính quyền các địa phương tỉnh Lâm Đồng đang tăng cường các biện pháp xử lý, xử phạt nhằm chấn chỉnh việc tuân thủ các quy định về đất đai. Đây là việc làm kịp thời trong bối cảnh giá cả nông sản tăng cao, nhiều hộ dân tự ý san gạt, thay đổi hiện trạng đất nhằm chuyển đổi cây trồng, nguy cơ ảnh hưởng tới các hộ sử dụng đất liền kề.