Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống được ví như “lá phổi xanh” của vùng Bắc Trung Bộ khi lưu giữ hệ sinh thái rừng hơn 46.460 ha; trong đó, hơn 40.150 ha là rừng đặc dụng cùng nguồn tài nguyên đa dạng sinh học phong phú bậc nhất Nghệ An.
Quần thể cây gỗ quý như lim xanh, táu xanh, sến mật có chu vi hơn một người ôm, tán lá đan xen tạo thành mái vòm xanh thẳm. Ảnh tư liệu: Xuân Tiến/TTXVN
Là 1 trong 3 vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới vào tháng 9/2007, nơi đây đang là mái nhà chung của hàng trăm loài động, thực vật quý hiếm, nhiều loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam và danh lục đỏ IUCN, góp phần khẳng định giá trị đặc biệt của những cánh rừng nguyên sinh nơi miền Tây xứ Nghệ.
“Kho báu xanh” miền Tây xứ Nghệ
Ông Võ Minh Sơn, Giám đốc Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống cho biết, được thành lập từ năm 2001, đến nay, theo điều tra, đánh giá đa dạng sinh học ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, hệ thực vật có hơn 1.800 loài thực vật bậc cao của hơn 770 chi và hơn 190 họ ở 6 ngành thực vật; trong đó, có 76 loài thực vật quý hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam và 39 loài trong Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính Phủ; 15 loài trong danh lục IUCN (2020) và hệ động vật có 850 loài động vật trong hơn 130 họ thuộc 34 bộ thuộc các lớp thú, chim, bò sát, ếch nhái cá và côn trùng cánh vảy.
Sự đa dạng về hệ sinh thái, hệ sinh cảnh là yếu tố quan trọng tạo nên tính đa dạng sinh học của Khu bảo tồn thiên nhiên; trong đó có nhiều loài động, thực vật quý hiếm, đặc hữu nằm trong Sách đỏ Việt Nam và Danh lục đỏ của IUCN. Về thực vật, có Bách xanh, Pơ mu, Tuế lá dài, Chò nâu, Thông lông gà, Sến mật, Sa mộc dầu, Vù hương, Gù hương, Lan hài xanh, Sa mu dầu… Về động vật có Vượn má trắng, Vượn đen tuyền, Voọc xám, Cu li nhỏ, Khỉ mốc, Khỉ mặt đỏ, Mang trường sơn, Rùa hộp trán vàng, Voọc chà vá chân nâu, cầy hương, gà so họng hung, Trĩ sao, Công, Hồng hoàng…
Giai đoạn gần đây nhất, từ năm 2022 đến năm 2025, các hoạt động điều tra, giám sát định kỳ, đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học theo từng chuyên đề, nhiều quần thể thực vật và động vật quý hiếm đã được phát hiện, đánh giá và ghi nhận bổ sung.
Nổi bật như điều tra, nghiên cứu đặc điểm khu hệ bò sát, ếch nhái, ghi nhận 123 loài với 31 loài xếp vào nhóm nguy cấp, quý, hiếm, đặc biệt phát hiện bổ sung 10 loài chưa từng được ghi nhận tại khu vực; Nghiên cứu các loài thực vật có tinh dầu xác định được 306 loài với 15 loài thuộc Sách đỏ Việt Nam; Điều tra tổng thể các loài thực vật có giá trị dược liệu, ghi nhận 831 loài, ghi nhận 76 loài thuộc nhóm thực vật quý hiếm có nguy cơ bị đe dọa tại Việt Nam với 38 loài có trong Sách đỏ Việt Nam, 10 loài là thực vật đặc hữu của Việt Nam, 14 loài được xếp hạng trong Danh lục Đỏ IUCN; Điều tra các loài thuộc họ Ngọc lan (Magnoliaceae) đã ghi nhận 11 loài, trong đó có 3 loài thuộc Sách đỏ Việt Nam và 8 loài thuộc Danh lục Đỏ IUCN; Nghiên cứu sàng lọc hoạt tính, thành phần hóa học một số loài cây thuốc bản địa đã thống kê được 8 loài thực vật có trong Sách đỏ Việt Nam (2007)…
Đặc biệt, việc phối hợp giữa Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống với các trường Đại học trong nước (Đại học Lâm nghiệp, Đại học Vinh), Viện nghiên cứu và tổ chức bảo tồn ngoài nước (Vườn thú San Diego Zoo - SDZWA, Tổ chức Động vật châu Á - Animals Asia…) trong ứng dụng công nghệ tiên tiến vào điều tra giám sát bằng công nghệ đặt bẫy ảnh đã thu được nhiều bằng chứng hình ảnh xác nhận sự tồn tại của các loài thú quý hiếm tại Khu bảo tồn.
Kết quả này góp phần làm phong phú cơ sở dữ liệu khoa học, phục vụ cho công tác quản lý bảo tồn, quy hoạch phát triển bền vững; từng bước bổ sung dữ liệu về các loài được ưu tiên bảo vệ vào danh mục quản lý, làm cơ sở quan trọng cho công tác giám sát và hoạch định chính sách bảo tồn trong tương lai.
Ông Trần Đức Long, Trưởng phòng Khoa học kỹ thuật và Hợp tác quốc tế (Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống) cho biết, tại Nhà bảo tàng thiên nhiên văn hóa mở Pù Huống hiện trưng bày được hơn 650 mẫu tiêu bản thực vật, nổi bật với những mẫu tiêu bản Lim xanh, Chò chỉ, Kim giao, Mun, Lan kim tuyến… Cùng với đó, hệ động vật (cá, lưỡng cư, bò sát, thú, côn trùng) có hơn 150 mẫu tiêu bản, nổi bật với các mẫu tiêu bản của các loại động vật quý, hiếm như: mèo rừng, vượn đen má trắng, voọc, gấu chó, chồn, sừng Sao La, các loại cá nước ngọt, rắn...
“Trong giai đoạn 2022 - 2025, Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống phối hợp với Trung tâm Cứu hộ, Bảo tồn và Phát triển sinh vật (Vườn Quốc gia Cúc Phương) tái thả 8 cá thể khỉ vàng (Macaca mulatta) và 3 cá thể khỉ mặt đỏ (Macaca arctoides) về Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Huống (Nghệ An), góp phần phục hồi quần thể loài và nâng cao hiệu quả công tác cứu hộ, tái thả động vật hoang dã. Các cá thể này thích nghi rất tốt với điều kiện rừng tự nhiên ở Pù Huống đã minh chứng cho chất lượng sinh cảnh, sự phù hợp giữa cấu trúc rừng, nguồn thức ăn và điều kiện tự nhiên của khu bảo tồn đối với nhiều loài động vật hoang dã”, ông Trần Đức Long, Trưởng phòng Khoa học kỹ thuật và Hợp tác quốc tế cho biết thêm.
Phát triển bền vững “kho báu xanh” với “3 trụ cột” cộng đồng, khoa học, sinh kế
Ông Võ Minh Sơn, Giám đốc Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống cho biết, những năm qua, Ban quản lý Khu bảo tồn đã lồng ghép nhiệm vụ bảo tồn đa dạng sinh học vào công tác quản lý, bảo vệ rừng; tăng cường phối hợp với chính quyền địa phương, lực lượng chức năng và cộng đồng vùng đệm để tuần tra, kiểm soát, bảo vệ tài nguyên rừng, động vật hoang dã. Tuy nhiên, khu bảo tồn vẫn đang chịu nhiều sức ép từ việc khai thác lâm sản, săn bắt thú nhỏ, chăn thả gia súc, chuyển đổi mục đích sử dụng đất và nhận thức cộng đồng chưa đồng đều. Bên cạnh đó, công tác điều tra, giám sát đa dạng sinh học còn thiếu đồng bộ, dữ liệu phân tán, trong khi trang thiết bị phục vụ nghiên cứu, cứu hộ và bảo tồn còn thiếu.
Theo ông Võ Minh Sơn, để phát triển bền vững “kho báu xanh” Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, từ nay đến năm 2030, Ban quản lý khu bảo tồn sẽ triển khai nhiều giải pháp nhằm bảo tồn đa dạng sinh học, trọng tâm là tăng cường tuần tra rừng, bảo vệ đa dạng sinh học nhờ 7 trạm quản lý, bảo vệ rừng; ứng dụng công nghệ bẫy ảnh, flycam, GIS để giám sát tài nguyên rừng và các loài nguy cấp, quý hiếm; phối hợp với chính quyền địa phương, cộng đồng vùng đệm đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức bảo vệ rừng cho người dân; tập trung bảo vệ nguyên vẹn diện tích rừng tự nhiên, phục hồi hệ sinh thái đặc trưng, triển khai các chương trình bảo tồn loài quý hiếm theo hình thức bảo tồn tại chỗ (In-situ) và chuyển chỗ (Ex-situ).
Công tác hỗ trợ sinh kế bền vững cho người dân vùng đệm cũng được tập trung triển khai thông qua mô hình trồng dược liệu, cây bản địa dưới tán rừng, du lịch sinh thái cộng đồng, nông - lâm kết hợp và giao khoán bảo vệ rừng. Chủ động lồng ghép mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học vào các chương trình quản lý, phát triển rừng, phát triển kinh tế - xã hội vùng đệm nhằm bảo đảm hài hòa giữa bảo tồn và phát triển bền vững.
Ngoài ra, đơn vị sẽ đẩy mạnh hợp tác với các tổ chức quốc tế để giám sát, nghiên cứu nguồn gen, điều tra loài quý hiếm, cập nhật cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học bằng các công nghệ hiện đại như viễn thám, GIS, bẫy ảnh, thiết bị giám sát tự động nhằm theo dõi hiệu quả biến động quần thể và sinh cảnh rừng; xây dựng hệ thống dữ liệu mở về nguồn gen và đa dạng sinh học phục vụ công tác quản lý, nghiên cứu và chia sẻ thông tin với các tổ chức trong nước, quốc tế.
Ngoài tập trung bảo tồn tại chỗ các loài nguy cấp, quý hiếm, phục hồi các hệ sinh thái đặc thù như rừng á nhiệt đới, núi đá vôi, khe suối; đơn vị sẽ tăng cường sưu tầm, lưu giữ mẫu vật động, thực vật quý hiếm và nâng cấp cơ sở bảo quản, phát huy hiệu quả hoạt động của Nhà bảo tàng thiên nhiên - văn hóa mở Pù Huống.
Cùng với đó, đơn vị cũng đẩy mạnh đào tạo, hợp tác với các viện, trường đại học và tổ chức bảo tồn trong, ngoài nước để nâng cao năng lực quản lý, tiếp cận nguồn lực khoa học, công nghệ và tài chính phục vụ công tác bảo tồn đa dạng sinh học lâu dài; tổ chức nhiều lớp tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng truyền thông, giáo dục môi trường cho lực lượng quản lý thôn, bản vùng đệm. Qua đó góp phần nâng cao năng lực quản lý, bảo vệ rừng, tăng cường phối hợp trong công tác bảo tồn và lan tỏa ý thức bảo vệ thiên nhiên, động vật hoang dã trong cộng đồng.
Bên cạnh nguồn ngân sách Nhà nước được duy trì ổn định hằng năm, Khu bảo tồn cũng tăng cường huy động nguồn lực xã hội hóa, hợp tác quốc tế, đồng thời tận dụng các cơ chế tài chính mới như chi trả dịch vụ môi trường rừng, giảm phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon nhằm bảo đảm nguồn lực lâu dài cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học./.