Giữa nhịp sống hiện đại đang đổi thay từng ngày, ở vùng núi Pà Cò của tỉnh Phú Thọ, những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Mông vẫn được gìn giữ bền bỉ qua đôi bàn tay khéo léo của người phụ nữ. Những tấm thổ cẩm rực rỡ sắc màu không chỉ là trang phục thường ngày mà còn là kết tinh của lao động, ký ức và bản sắc dân tộc được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Ở xã Pà Cò, nghề dệt thổ cẩm từ lâu đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của đồng bào Mông. Từ khi còn nhỏ, nhiều bé gái đã được bà và mẹ hướng dẫn cách se sợi, dệt vải, thêu thùa, vẽ sáp ong trên vải lanh. Những bài học giản dị ấy chính là cách để lưu giữ nghề truyền thống và nuôi dưỡng tình yêu với văn hóa dân tộc.
Sinh ra trong gia đình nhiều thế hệ gắn bó với nghề dệt, em Giàng Thị Mủa đã sớm quen với tiếng khung cửi lách cách vang lên mỗi ngày. Ban đầu Mủa chỉ ngồi xem mẹ và bà làm nghề nhưng dần em học theo từng công đoạn, để rồi tự tay dệt nên bộ trang phục truyền thống cho mình. Mủa cho biết: "Từ nhỏ em đã thấy mẹ thường xuyên dệt vải nên học làm theo. Khi lập gia đình, em tiếp tục được mẹ chồng chỉ dạy thêm kỹ thuật thêu thùa, vẽ sáp ong trên vải. Theo em, nghề truyền thống không chỉ giúp tạo thêm thu nhập mà còn góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Mông".
Để tạo nên một bộ trang phục truyền thống hoàn chỉnh, người phụ nữ Mông phải trải qua nhiều công đoạn công phu, đòi hỏi sự kiên nhẫn và tỉ mỉ. Từ những nương lanh trên sườn núi, cây lanh sau khi thu hoạch sẽ được tước vỏ, phơi khô rồi se thành sợi. Những sợi lanh nhỏ, đều và chắc được đưa lên khung cửi để dệt thành từng tấm vải. Sau đó, vải tiếp tục được đập mềm, giặt sạch, phơi khô và là phẳng trước khi trang trí hoa văn. Đây cũng là công đoạn thể hiện rõ nhất sự sáng tạo của người phụ nữ Mông.
Nghệ thuật vẽ sáp ong trên vải lanh là kỹ thuật truyền thống độc đáo được đồng bào Mông lưu giữ qua nhiều thế hệ. Người phụ nữ sử dụng chiếc bút đồng nhỏ nhúng vào sáp ong nóng chảy rồi khéo léo vẽ các họa tiết lên nền vải trắng. Sau đó, tấm vải được nhuộm chàm nhiều lần. Khi lớp sáp ong được loại bỏ, những hoa văn màu trắng hiện lên nổi bật trên nền xanh thẫm, tạo nên vẻ đẹp hài hòa và mang đậm bản sắc dân tộc. Những họa tiết trên thổ cẩm Mông thường mô phỏng thiên nhiên, núi rừng và đời sống sinh hoạt của đồng bào. Không chỉ mang giá trị thẩm mỹ, mỗi hoa văn còn chứa đựng những câu chuyện văn hóa được gửi gắm qua từng đường nét.
Chị Sùng Y Thanh, xã Pà Cò cho biết, đối với phụ nữ Mông, việc biết may và làm trang phục truyền thống gần như là điều bắt buộc. Người phụ nữ không chỉ tự may quần áo cho mình mà còn chuẩn bị trang phục cho chồng con trong gia đình. Vì vậy, các kỹ năng dệt vải, thêu thùa luôn được học hỏi từ thế hệ đi trước rồi tiếp tục truyền dạy lại cho lớp trẻ. Chị Thanh chia sẻ: "Ngày nay, trong dòng chảy của cuộc sống hiện đại, nhiều nghề thủ công truyền thống đứng trước nguy cơ mai một khi lớp trẻ có xu hướng rời bản đi học tập, làm việc ở các đô thị. Tuy nhiên, ở Pà Cò, nghề dệt thổ cẩm vẫn được duy trì nhờ ý thức gìn giữ văn hóa của cộng đồng và sự nỗ lực của các cấp hội phụ nữ địa phương".
Ngoài giá trị văn hóa, nghề dệt thổ cẩm còn mở ra hướng phát triển kinh tế cho nhiều gia đình. Các sản phẩm như váy áo truyền thống, túi xách, khăn, ví hay đồ lưu niệm được nhiều du khách yêu thích bởi sự độc đáo, thủ công và mang đậm dấu ấn bản địa.
Chị Hàng Y Tếnh, Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Pà Cò chia sẻ, Hội phụ nữ xã thường xuyên tuyên truyền, vận động hội viên giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc thông qua việc duy trì nghề dệt truyền thống. Hiện nay, tại xóm Pà Cò 1 và xóm Chà Đáy vẫn duy trì các nhóm phụ nữ làm nghề dệt thổ cẩm, vừa phục vụ nhu cầu sử dụng trong cộng đồng vừa tạo sản phẩm bán ra thị trường. "Nhiều sản phẩm thổ cẩm của phụ nữ Mông ở Pà Cò hiện đã được giới thiệu đến du khách trong và ngoài nước, thậm chí kết nối tiêu thụ tại một số thị trường như Lào, Thái Lan và Mỹ. Nhờ đó, nhiều chị em có thêm thu nhập ổn định, bình quân đạt từ 70 đến 80 triệu đồng mỗi năm", chị Tếnh nói.
Giữa những đổi thay của cuộc sống hiện đại, hình ảnh người phụ nữ Mông lặng lẽ bên khung cửi vẫn trở thành nét đẹp bình dị nơi miền núi cao. Từng sợi lanh, đường kim, mũi chỉ không chỉ dệt nên những tấm vải đầy sắc màu mà còn kết nối quá khứ với hiện tại, góp phần gìn giữ hồn cốt văn hóa dân tộc qua thời gian./.
Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.
Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.
Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.
Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.
Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...
Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.
Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.
Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.
Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.
Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.
Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.
Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.
Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.
Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.
Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.
Ở: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.
Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.
Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.
Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.
Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.
Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.
Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.
Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...
Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.
Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.
Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.
Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.
Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.
Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).
Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.
Theo cema.gov.vn